Tình hình ứng dụng Thương mại điện tử trong doanh nghiệp Việt Nam

Tình hình ứng dụng Thương mại điện tử trong doanh nghiệp Việt Nam

Nguồn: Nguyễn Trang tổng hợp
Thứ sáu, ngày 14/08/2015 - 10:56 sáng

Thương mại điện tử (TMĐT) đã được coi là một trong những động lực phát triển kinh tế chủ yếu với ưu thế giảm chi phí, tiết kiệm thời gian, thu nhỏ không gian, cho phép doanh nghiệp sớm tiếp cận nền kinh tế số. Đến nay có thể nói TMĐT đã và đang đi vào cuộc sống… Tuy nhiên, TMĐT ở nước ta nói chung vẫn chưa theo kịp với sự phát triển của TMĐT thế giới.  Nhưng nhìn chung trong năm 2014 việc ứng dụng thương mại điện tử để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp đã có những bước chuyển biến tích cực đáng kể so với những năm trước

       Qua khảo sát của Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin – Bộ Công Thương tại 3.538 doanh nghiệp trong cả nước  với nhiều loại hình và lĩnh vực khác nhau. Kết quả khảo sát chỉ ra thông tin chung của doanh nghiệp khảo sát như loại hình, lĩnh vực hoạt động và quy mô của doanh nghiệp; hạ tầng CNTT và nguồn nhân lực; các hình thức giao dịch, thanh toán trong TMĐT; tình hình vận hành website TMĐT; hiệu quả ứng dụng thương mại điện tử của doanh nghiệp; sử dụng dịch vụ công trực tuyến.

       Với loại hình doanh nghiệp tham gia khảo sát, có 48% là loại hình công ty TNHH, 34% loại hình công ty cổ phần, 19%  loại hình doanh nghiệp tư nhân , công ty có vốn đầu tư nước ngoài và  loai hình khác. Năm nay lĩnh vực công nghiệp không còn đứng vị trí dẫn đầu như năm 2013 mà nhường vào đó là các doanh nghiệp thuộc 3 lĩnh vực; bán buôn, bán lẻ (23%), xây dựng (21%) và công nghiệp (18%). Tại đây kết quả cũng cho thấy tỷ lệ các doanh nghiệp lớn tham gia điều tra năm 2014 là 9%, tỷ lệ tương ứng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) là 91%.

       Về hạ tầng công nghệ thông tin và nguồn nhân lực: Doanh nghiệp đã có sự quan tâm, đầu tư tới hạ tầng công nghệ thông tin và thương mại điện tử, các doanh nghiệp sử dụng các phần mềm hỗ trợ công tác quản lý, kinh doanh và sản xuất: như phần mềm quan hệ khách hàng (CRM), phần mềm quản lý hệ thống cung ứng (SCM) và phầm mềm lập kế hoạch nguồn lực (ERP), việc khai thác email trong công việc tăng so với năm trước (24% năm 2013 và 35% năm 2014). Các doanh nghiệp cũng bắt đầu tận dụng ưu thế của chữ ký số trong giao dịch thương mại điện tử. Tuy nhiên tỷ lệ doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách về CNTT và TMĐT năm 2014 giảm nhẹ so với năm trước (62% năm 2014 và 65% năm 2013). Số lượng cán bộ  chuyên trách về CNTT và TMĐT trung bình tại mỗi doanh nghiệp là 3 người. Khi được hỏi về khó khăn trong tuyển dụng lao động có kỹ năng về CNTT và TMĐT, 27% doanh nghiệp trả lời có, 73% doanh nghiệp trả lời không. Điều đó chứng tỏ các doanh nghiệp đã có những định hướng cụ thể dành cho sự phát triển TMĐT.

       Hình thức thanh toán chủ yếu tại doanh nghiệp vẫn là hình thức chuyển khoản (chiếm tỷ lệ hơn 90% qua các năm). Tiếp đó là thẻ thanh toán (20% năm 2014), ví điện tử (6% năm 2014) và thẻ cào (3% năm 2014). Số lượng website có chức năng thanh toán trực tuyến năm 2014 là 20%, cao hơn 2% so với năm 2013 (18%). Tuy nhiên hầu hết các doanh nghiệp đều có chính sách bảo vệ thông tin cá nhân. Năm 2014, 80% doanh nghiệp có áp dụng chính sách bảo vệ thông tin cá nhân, tăng so với 73% của năm trước đấy.

       Cũng theo báo cáo thống kê của cục thương mại điện tử và công nghệ thông tin – Bộ Công Thương vừa qua cả nước có 24% doanh nghiệp bán hàng qua mạng xã hội, 45% qua website, 15% qua  sàn giao dịch thương mại điện tử  và 11% sử dụng ứng dụng trên điện thoại di động để bán hàng, có thể nói doanh nghiệp bán hàng qua websie cho người tiêu dùng hiện nay đang chiếm số đông

       Nhìn chung năm vừa qua, thương mại điện tử đã đóng góp một không phần không nhỏ cho tổng GDP  thúc đẩy nền kinh tế cả nước phát triển. Nhưng bên cạnh đó thương mại điện tử vẫn còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục cụ thể theo thống kê của Hiệp Hội thương mại điện tử  cả nước có gần 90,73 triệu dân trong đó 39% người dân sử dụng internet , với sự bùng nổ như vậy, vi phạm trong giao dịch thương mại điện tử bắt đầu phát sinh gây nên không ít sự nghi ngờ từ phía người tiêu dùng. Ngoài ra, những mô hình thương mại điện tử bán lẻ trên mạng, kinh doanh trên mạng  mở rộng khiến cho các doanh nghiệp gian lận có chiều hướng gia tăng.

       Do vậy trong thời gian tới, cơ quan nhà nước phải hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, có chính sách, biên pháp ngăn chặn để bảo vệ người tiêu dùng và doanh nghiệp làm ăn chân chính. Cụ thể là hoàn thiện hệ thống thanh toán thương mại điện tử, hoàn thiện dịch vụ logicstic, đồng thời phát triển những giải pháp ứng dụng phù hợp với các doanh nghiệp, đặc biệt chú trọng tới doanh nghiệp vừa và nhỏ qua đó tăng cường được lòng tin của người mua hàng cũng như người bán hàng trên mạng, có như thế thương mại điện tử mới sánh ngang với thương mại điện tử trên toàn thế giới.