Kết cấu hạ tầng thương mại điện tử Việt Nam

Kết cấu hạ tầng thương mại điện tử Việt Nam

Kết cấu hạ tầng thương mại điện tử Việt Nam

Nguồn: Tổng hợp
Thứ năm, ngày 25/02/2016 – 09:57 sáng

Kết cấu hạ tầng thương mại điện tử bao gồm: hạ tầng công nghệ thông tin và nguồn nhân lực, hạ tầng pháp lý, hạ tầng cơ sở bảo mật thông tin, hạ tầng viễn thông và internet và hạ tầng thanh toán điện tử… Tại Việt Nam, kết cấu hạ tầng thương mại điện tử đã cơ bản hỗ trợ tốt cho phát triển lĩnh vực thương mại điện tử.

Về hạ tầng công nghệ thông tin và nguồn nhân lực

Theo Báo cáo chỉ số Thương mại điện tử Việt Nam 2015 (EBI 2015 ) được xây dựng sau cuộc khảo sát được tiến hành từ tháng 9 tới tháng 11 năm 2015 tại 4.735 doanh nghiệp tại các tỉnh, thành phố trên cả nước cho thấy 99,9% doanh nghiệp tham gia khảo sát có máy tính PC và laptop. Có tới 88,4% doanh nghiệp có máy tính bảng, trong đó Hà Nội có tỷ lệ cao nhất là 96,1%, tiếp đó là Tp. Hồ Chí Minh với tỷ lệ 91,9%.

Về cơ cấu đầu tư cho công nghệ thông tin năm 2015, tỷ lệ đầu tư lớn nhất vẫn dành cho phần cứng (42%), tiếp đó là phần mềm (26%).Tỷ lệ đầu tư cho phần mềm năm 2015 cao hơn các năm 2013 và 2014 và bằng tỷ lệ năm 2012 chứng tỏ chưa có dấu hiệu cho thấy sự thay đổi lớn trong cơ cấu đầu tư cho công nghệ thông tin của các doanh nghiệp.

Theo EBI 2015 ứng dụng công nghệ thông tin và kinh doanh trực tuyến đã phổ biến và được các doanh nghiệp đầu tư đáng kể nguồn nhân lực thể hiện tỷ lệ doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin và thương mại điện tử là 82,2%, cao hơn nhiều so với các năm trước. Những lĩnh vực kinh doanh có tỷ lệ lao động chuyên trách cao nhất là giải trí (97%), công nghệ thông tin và truyền thông (93%), tài chính và bất động sản (92%), y tế, giáo dục và đào tạo (90%).

Về hạ tầng pháp lý

Hành lang pháp lý về thương mại điện tử Việt Nam đang dần được hoàn thiện và điều chỉnh phù hợp với xu hướng phát triển mạnh mẽ của thị trường nội tại. Những năm vừa qua nhà nước đã có vai trò lớn đối với sự phát triển thương mại điện tử trong việc cập nhật, ban hành kịp thời nhiều nghị định và văn bản pháp quy để điều chỉnh các hành vi, mô hình kinh doanh thương mại điện tử đồng thời đưa ra định hướng phát triển đúng đắn cho doanh nghiệp Việt Nam.

Theo đánh giá của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, từ năm 2016 thương mại điện tử Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới với nét nổi bật là tốc độ phát triển nhanh và ổn định. Số lượng và quy mô giao dịch trực tuyến tăng lên cũng như nhiều hình thức kinh doanh trực tuyến mới xuất hiện sẽ dẫn tới số lượng và sự phức tạp của các tranh chấp trong thương mại điện tử tăng theo. Các cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện tử, quản lý thị trường, quản lý cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng, các tổ chức trọng tài và tòa án ở Trung ương cũng như các địa phương cần nâng cao năng lực xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật và xét xử.

Về hạ tầng cơ sở bảo mật thông tin

Hiện nay, ngành Cơ yếu Việt Nam đã sản xuất được những sản phẩm kỹ thuật và nghiệp vụ mật mã hiện đại đáp ứng được yêu cầu bảo mật thông tin giúp người dùng yên tâm hơn khi giao dịch thương mại điện tử. Theo EBI 2015, năm 2015 tỷ lệ các doanh nghiệp sử dụng chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số lên đến 63%, cao hơn hẳn các tỷ lệ 45%, 31% và 23% của các năm 2014, 2013 và 2012. Tỷ lệ này phản ảnh các dịch vụ thuế điện tử và hải quan điện tử cùng nhiều dịch vụ công trực tuyến khác đã triển khai rộng rãi tới doanh nghiệp trên phạm vi cả nước.

Về hạ tầng viễn thông và internet

Hiện nay, cơ sở hạ tầng viễn thông và Internet của Việt Nam đã tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới về công nghệ, loại hình dịch vụ, giá cước thấp và mức độ phổ cập dịch vụ. Về cơ sở hạ tầng cũng như dịch vụ trên nền Internet phát triển, trong khu vực Đông Nam Á, hiện Việt Nam chỉ kém Singapore và Malaysia, còn tương đương (thậm chí nhiều mặt còn hơn) Thái Lan và Indonesia. Như vậy về hạ tầng viễn thông và internet cơ bản đáp ứng tốt yêu cầu phát triển thương mại điện tử.

Về hạ tầng thanh toán điện tử

Hiện nay hệ thống viễn thông Internet của Việt Nam đảm bảo triển khai tốt các ứng dụng về thanh toán điện tử, đặc biệt là khu vực thành phố lớn. Các hình thức thanh toán điện tử phổ biến gồm: Thanh toán thông qua thẻ (POS, ATM…), thanh toán trên Internet (thông qua tài khoản mở tại ngân hàng); thanh toán trực tiếp qua điện thoại di động; … Tuy nhiên, theo Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam, từ kết quả khảo sát doanh nghiệp trong bốn năm liên tiếp có thể thấy trong khi thương mại điện tử phát triển khá nhanh thì thanh toán điện tử chưa theo kịp sự phát triển này.

EBI 2015 cho thấy trong khi các hình thức thanh toán tiên tiến, chẳng hạn qua các thiết bị di động, đang hình thành ở Việt Nam thì hình thức giao hàng thu tiền vẫn là kênh thanh toán phổ biến nhất. Cụ thể: tỷ lệ doanh nghiệp chấp nhận thẻ thanh toán là 16%, hình thức thanh toán qua ví điện tử chỉ được 4%, tỷ lệ thanh toán cho các giao dịch trực tuyến thông qua thẻ cào tiếp tục ở mức rất thấp là 2% và có xu hướng giảm dần. Một số nguyên nhân dẫn đến thanh toán điện tử còn hạn chế là do rủi ro tiềm tàng từ hình thức thanh toán điện tử như: có thể bị hacker trộm tài khoản, bị kẻ gian truy cập vào dữ liệu mã hóa, lợi dụng kẽ hở bảo mật để đánh cắp thông tin từ thẻ tín dụng, điện thoại của người tiêu dùng (điều đã và đang vẫn xảy ra)….

Để phát triển hạ tầng thanh toán điện tử nhằm giảm thiểu rủi ro, củng cố niềm tin người tiêu dùng trong mua sắm trực tuyến vừa qua Chính Phủ đã phê duyệt Chương trình phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2014 – 2020. Trong đó có nội dung cụ thể như xây dựng hệ thống thanh toán thương mại điện tử quốc gia; xây dựng giải pháp thẻ thanh toán thương mại điện tử tích hợp; xây dựng hệ thống quản lý trực tuyến hoạt động vận chuyển cho thương mại điện tử; xây dựng hạ tầng chứng thực chữ ký số cho thương mại điện tử. Bên cạnh đó, xây dựng các tiêu chuẩn trao đổi thông điệp dữ liệu trong thương mại điện tử; xây dựng hệ thống đảm bảo lòng tin cho hoạt động mua sắm trực tuyến và cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *