Diễn biến thị trường thủy sản thế giới

Trong những năm qua, nhu cầu tăng vọt và nguồn cung các sản phẩm thủy sản dồi dào đã đưa thủy sản thành một trong những mặt hàng được giao dịch sôi nổi nhất trên thị trường.

Cùng với toàn cầu hóa, sự chuyên môn hóa sản phẩm tăng lên, chuỗi cung ứng trở nên dài và phức tạp hơn, thị hiếu cũng như mối quan tâm cùng kỳ vọng của người tiêu dùng mở rộng. Đây là xu hướng chính trong tiêu dùng thủy sản. Ước tính, trong vài thập kỷ trở lại đây, tỉ lệ tăng trưởng tiêu dùng thủy sản ở mức cao, trong tương lai dự báo khó có thể đạt được mức độ tăng trưởng cao như vậy.

Theo Tổ chức nông lương thế giới (FAO), thủy sản được đưa ra thị trường dưới nhiều hình thức, trong đó năm 2016 gần 35% sản lượng thủy sản dùng để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của con người. 60 triệu tấn sản phẩm xuất khẩu năm 2016 tương đương mức tăng 245% so với năm 1976 và mức tăng này là hơn 514% nếu chỉ tính trên giao dịch sản phẩm thủy sản phục vụ cho tiêu dùng của con người.

Trong giai đoạn 40 năm, thương mại thủy sản toàn thế giới cũng tăng mạnh trên phương diện giá trị, từ mức 8 tỷ USD lên mức 143 bỷ USD, tương đương 8% mỗi năm, mức tăng trưởng xuất khẩu từ các nước đang phát triển tăng nhanh hơn so với các nước phát triển. Tổng giá trị giao dịch chiếm trên 9% tổng xuất khẩu nông sản và 1% tổng giao dịch hàng hóa toàn thế giới.

Nhờ các hiệp định tự do thương mại khu vực, thương mại cá ở các khu vực tăng lên từ những năm 1990. Xu hướng này thể hiện rõ nét trong năm 2016, giao dịch tăng 7% so với năm trước đó. Sang năm 2017, tăng trưởng kinh tế  đã thúc đẩy nhu cầu và giá, dẫn tới tăng giá trị xuất khẩu cá toàn cầu khoảng 7%, đạt đỉnh ở mức sơ bộ khoảng 152 tỷ USD.

Trung Quốc là nhà sản xuất chính các sản phẩm thủy sản và từ năm 2002 nước này là nhà xuất khẩu lớn nhất đối với sản phẩm thủy sản. Mặc dù tăng trưởng nhanh trong những năm 1990 nhưng những năm 2000 đã chậm lại, xuất khẩu thủy sản Trung Quốc đạt mức 20.5 tỷ USD trong năm 2017, tăng 2% so với năm trước. Sau Trung Quốc, các nước xuất khẩu chính gồm Na Uy (11.7 tỷ USD), Việt Nam (7.2 tỷ USD)

EU là thị trường tiêu thụ lớn nhất đối với thủy sản và sản phẩm thủy sản, theo sau là Mỹ và Nhật. Trong năm 2016, 3 thị trường này chiếm khoảng 64% tổng giá trị nhập khẩu cá và sản phẩm cá toàn thế giới. Trong suốt năm 2016, 2017 nhập khẩu cá tăng trưởng dương tại cả 3 thị trường nhờ kinh tế mạnh lên.

Thương mại thủy sản đặc trưng bởi sự đa dạng sản phẩm. Các loại giá trị cao như tôm, cá hồi, cá ngừ, cá tráp, cá tầng đáy, cá bẹt được giao dịch nhiều, đặc biệt là tại những thị trường thịnh vượng. Mặc dù vậy, các loài có giá trị thấp cũng được giao dịch với số lượng lớn và chủ yếu được xuất khẩu cho người tiêu dùng có thu nhập thấp ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên, FAO cũng chỉ ra rằng các loài có giá trị cao được nhập khẩu nhiều hơn ở các nước đang phát triển để dùng cho tiêu dùng nội địa.

Tính theo loài, thương mại cá hồi đã tăng trung bình 10% mỗi năm về giá trị tính từ năm 1976 và từ năm 2013 đây là mặt hàng có giá trị giao dịch lớn nhất toàn ngành. Nguyên nhân tăng chủ yếu do tăng thu nhập và đô thị hóa tại các thị trường mới nổi như Đông Á và Đông Nam Á. Nhưng cá hồi vẫn giữ nguyên lượng lớn khách hàng tiêu thụ và tốc độ tăng trưởng tại thị trường các nước phát triển gồm EU, Mỹ và Nhật Bản. Hầu hết nguồn cung cá hồi đến từ nguồn nuôi trồng, cung cấp bởi Na Uy và Chi Lê bên cạnh nguồn cung cá hồi Thái Bình Dương tự nhiên cũng được giao dịch với số lượng đáng kể

Tôm là mặt hàng được giao dịch lớn thứ 2 trong nhóm hàng thủy sản xuất khẩu tính theo giá trị. Các nước Mỹ La tinh, Đông và Đông Nam Á chiếm thị phần lớn trong sản xuất nhưng tỉ lệ lớn về tiêu thụ thuộc về thị trường các nước phát triển.

Trong khi đó, phân khúc thị trường cá thịt trắng vốn bị chi phối bởi một số loài cá tự nhiên như cá tuyết, cá minh thái Alaska hiện đang bị chia sẻ bởi các loài cá nuôi có giá thấp hơn như cá tra, cá rô phi chủ yếu được nuôi ở Việt Nam và Trung Quốc. Các loại cá trên đều chiếm thị phần lớn tại thị trường Mỹ

Dự báo, khoảng 31% tổng sản lượng cá tự nhiên và nuôi trồng sẽ được xuất khẩu trong năm 2030 (38% với EU). Tính về lượng, giao dịch sản phẩm dùng cho con người dự báo tăng 24% đạt hơn 48 triệu tấn (60.6 triệu tấn nếu tính cả giao dịch nội khối EU). Tỉ lệ tăng trưởng xuất khẩu hàng năm dự báo giảm từ mức 2.3% trong giai đoạn từ 2013-2016 xuống mức 1.5% trong giai đoạn từ 2017-2030. Mức giảm này, theo FAO, nguyên nhân một phần do tăng giá, tỉ lệ tăng sản lượng chậm lại và nhu cầu nội địa các nước xuất khẩu chính tăng lên.

Trung Quốc sẽ tiếp tục là nước xuất khẩu chính đối với thủy sản phục vụ tiêu dùng của con người (theo sau là Việt Nam và Na Uy) chiếm khoảng 20% tổng lượng cá xuất khẩu. Phần lớn tăng trưởng xuất khẩu sẽ nhờ vào tăng trưởng tại các nước châu Á. Thị phần của châu Á trong tổng giao dịch cá dùng cho con người ở mức 50% vào năm 2030.

Nhu cầu nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa của các nền kinh tế phát triển được dự báo sẽ giữ nguyên. Theo đó, EU, Nhật và Mỹ sẽ chiếm khoảng 43% tổng nhập khẩu cá dùng cho con người, giảm so với mức 44% của năm 2016.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *