Hiệp định Thương mại tự do – Doanh nghiệp Hải Phòng cần biết “CHƯƠNG I. THÔNG TIN CHUNG VỀ HIỆP ĐỊNH CPTPP” CHƯƠNG I. THÔNG TIN CHUNG VỀ HIỆP ĐỊNH CPTPP ( tiếp)

  1. Cam kết của Việt Nam trong một số lĩnh vực chính của Hiệp định CPTPP
  • Cắt giảm thuế nhập khẩu

Các thành viên CPTPP đã thống nhất sẽ giữ nguyên các cam kết về mở cửa thị trường hàng hóa của Hiệp định TPP trong khuôn khổ Hiệp định CPTPP. Theo đó, các thành viên CPTPP đều cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với gần như toàn bộ Biểu thuế quan nhập khẩu của nước mình. Các cam kết mở cửa thị trường được thể hiện chi tiết theo từng dòng thuế trong Biểu thuế nhập khẩu của mỗi nước CPTPP.

Nhìn chung, phần lớn các nước CPTPP áp dụng một mức thuế nhập khẩu chung cho tất cả các đối tác khác. Các nước áp dụng chung Biểu thuế quan nhập khẩu bao gồm Ốt-xtrây-li-a, Bru-nây, Ma-lai-xi-a, Niu-Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po và Việt Nam. Trong khi đó, một số nước khác áp dụng Biểu thuế nhập khẩu riêng cho từng nước CPTPP khác nhau (Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản và Mê-hi-cô). Tuy nhiên, một số nước trong nhóm này như Chi-lê và Ca-na-đa chỉ áp dụng mức thuế nhập khẩu riêng với một số ít dòng thuế, còn lại thì áp dụng chung đối với phần lớn Biểu thuế.

Về cơ bản, các cam kết về xóa bỏ và cắt giảm thuế quan nhập khẩu trong CPTPP được chia làm ba nhóm chính:

  • Nhóm xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay: Thuế nhập khẩu sẽ được xóa bỏ ngay khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực.
  • Nhóm xóa bỏ thuế nhập khẩu theo lộ trình: Thuế nhập khẩu sẽ được đưa về 0% sau một khoảng thời gian nhất định (lộ trình). Trong CPTPP, phần lớn là lộ trình 3-7 năm, tuy nhiên trong một số trường hợp, lộ trình có thể là trên 10 năm. Cá biệt, có một số rất ít dòng thuế có lộ trình xóa bỏ thuế nhập khẩu trên 20 năm.
  • Nhóm áp dụng hạn ngạch thuế quan (TRQ): Đối với nhóm hàng hóa này, thuế nhập khẩu chỉ xóa bỏ hoặc cắt giảm với một khối lượng hàng hóa nhất định (gọi là xóa bỏ/giảm thuế trong hạn ngạch). Với khối lượng nhập khẩu vượt quá lượng hạn ngạch trong biểu cam kết, mức thuế nhập khẩu áp dụng sẽ cao hơn, hoặc không được hưởng ưu đãi.

Cam kết thuế nhập khẩu của các nước CPTPP đối với Việt Nam:

Các nước CPTPP cam kết xóa bỏ hoàn toàn từ 97% đến 100% số dòng thuế nhập khẩu đối với hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam, tùy theo cam kết của từng nước. Gần như toàn bộ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vào các nước CPTPP khác sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu hoàn toàn ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc theo lộ trình. Một số cam kết thuế nhập khẩu của các đối tác CPTPP như sau:

  • Ca-na-đa cam kết xoá bỏ thuế nhập khẩu cho 95% số dòng thuế và 78% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ca-na-đa ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Trong đó, 100% kim ngạch xuất khẩu thủy sản và 100% kim ngạch xuất khẩu gỗ được xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực.
  • Nhật Bản cam kết xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực đối với 86% số dòng thuế (tương đương 93,6% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản), và gần 90% số dòng thuế sau 5 năm. Trong Hiệp định CPTPP, Nhật Bản lần đầu tiên cam kết xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu cho đại đa số nông, thủy sản xuất khẩu của ta.
  • Pê-ru cam kết xóa bỏ 80,7% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, tương đương 62,1% kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam và sẽ xóa bỏ thuế quan đối với 99,4% số dòng thuế vào năm thứ 17 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.
  • Mê-hi-cô cam kết xóa bỏ 77,2% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, tương đương 36,5% kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam và sẽ xóa bỏ thuế quan đối với 98% số dòng thuế vào năm thứ 10 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.
  • Chi-lê cam kết xóa bỏ 95,1% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, tương đương 60,2% kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam và sẽ xóa bỏ thuế quan đối với 99,9% số dòng thuế vào năm thứ 8 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.
  • Ốt-xtrây-li-a cam kết cắt giảm 93% số dòng thuế, tương đương 95,8% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này (khoảng 2,9 tỷ USD) ngay khi thực hiện Hiệp định. Các sản phẩm còn lại sẽ được xóa bỏ thuế với lộ trình cắt giảm cuối cùng tối đa vào năm thứ 4.
  • Niu-di-lân cam kết xóa bỏ 94,6% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, tương đương 69% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này (khoảng 101 triệu USD). Vào năm thứ 7 kể từ khi thực hiện Hiệp định, các dòng thuế còn lại sẽ dần được xóa bỏ hoàn toàn.
  • Xinh-ga-po cam kết xóa bỏ hoàn toàn thuế quan đối với tất cả các mặt hàng ngay khi thực hiện Hiệp định.
  • Ma-lai-xi-a cam kết xóa bỏ 84,7% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và xóa bỏ dần có lộ trình đối với các dòng thuế còn lại. Vào năm thứ 11, số dòng thuế cam kết cắt giảm của Ma-lai-xi-a lên tới 99,9%.
  • Bru-nây cam kết xóa bỏ 92% số dòng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam (tương đương 7.639 dòng) ngay khi Hiệp định có hiệu lực, xóa bỏ tới 99,9% vào năm thứ 7 và xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu vào năm thứ 11.

Cam kết của các nước theo một số nhóm hàng:

Giày dép

78% kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang Ca-na-đa sẽ được hưởng thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc được hưởng mức cắt giảm 75% so với mức thuế suất hiện tại. Riêng giầy da lần đầu tiên được Nhật Bản cam kết trong hiệp định thương mại tự do sẽ được giảm dần đều và xóa bỏ thuế nhập khẩu vào năm thứ 16 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Thuế nhập khẩu giầy dép vào Mê-hi-cô và Pê-ru cũng được giảm dần đều và xóa bỏ vào năm thứ 16 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.

Thủy sản

Các mặt hàng thủy sản sẽ được hưởng thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực khi xuất khẩu sang Ca-na-đa và Nhật Bản. Nhiều mặt hàng thủy sản trước chưa được cam kết xóa bỏ thuế quan trong hiệp định Việt Nam – Nhật Bản và ASEAN – Nhật Bản sẽ được hưởng thuế 0% khi xuất khẩu sang Nhật Bản, trong đó một số loài cá tuyết, surimi, tôm, cua … sẽ được hưởng thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Cá tra, cá basa là mặt hàng thủy sản duy nhất xuất khẩu lớn sang Mê-hi-cô sẽ được hưởng thuế 0% vào năm thứ 3 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.

Gạo

Với việc được hưởng thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực, gạo sẽ có khả năng tiếp cận và tăng trưởng tại thị trường Ca-na-đa. Mê-hi-cô cũng là thị trường mới, xuất khẩu khoảng 70.000 tấn/năm và sẽ được hưởng thuế 0% vào năm thứ 11 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Riêng gạo xuất khẩu sang Nhật Bản vẫn chịu sự điều chỉnh bởi hạn ngạch thuế quan theo cam kết của Nhật Bản trong WTO. Tuy nhiên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và Bộ Nông nghiệp Nhật Bản đã ký Thỏa thuận Hợp tác Phát triển Chuỗi Giá trị Gạo nhằm cải thiện khả năng gạo Việt Nam trúng thầu hạn ngạch thuế quan WTO của Nhật.

Cà phê, chè, hạt tiêu, hạt điều

Các mặt hàng này sẽ được hưởng mức thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Riêng Mê-hi-cô xóa bỏ thuế cà phê hạt Robusta vào năm thứ 16 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, cà phê hạt Arabica và cà phê chế biến giảm mức thuế suất 50% so với mức thuế hiện hành vào năm thứ 5 và năm thứ 10 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.

Rau

0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Trong khi đó, xuất khẩu sang Nhật Bản sẽ được hưởng mức thuế suất 0% vào năm thứ 3 hoặc năm thứ 5 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.

Mật ong

Thuế  nhập khẩu của các nước CPTPP sẽ được xóa bỏ ngay  khi Hiệp định có hiệu lực. Riêng Nhật Bản sẽ xóa bỏ thuế nhập  khẩu  đối với mật ong vào năm  thứ  8 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Trong FTA Việt Nam-Nhật Bản và FTA ASEAN-Nhật Bản, mật  ong Việt Nam xuất  khẩu sang Nhật Bản phải  chịu  hạn  ngạch thuế  quan. Đây là mặt hàng có khả năng phát triển trong tương lai nếu kiểm soát được chất lượng theo yêu cầu của nước nhập khẩu.

Nông sản chế biến

Sản  phẩm  từ  gạo  (bún,  mỳ,  phở…)  sẽ  được  hưởng  mức  thuế  suất  0%  khi  xuất  khẩu sang  Ca-na-đa.  Riêng  Nhật  Bản  sẽ  áp  dụng  một  lượng  hạn  ngạch  nhỏ  chung  cho các  nước  CPTPP  với  mức  thuế  suất  nhập khẩu trong  hạn  ngạch là 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

Rau quả chế biến sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu vào năm thứ 3-5-10 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, tùy từng loại, từng thị trường.

Sản phẩm chứa đường  (bánh,  kẹo, nước  ngọt  chứa  đường)  sẽ được hưởng mức thuế suất 0% vào năm thứ 11-16 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.

Đồ gỗ

Xuất khẩu đồ gỗ nội ngoại thất sang các nước Ca-na-đa, Pê-ru sẽ được hưởng mức thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

Vali, túi xách

Các mặt hàng vali, túi  xách  sẽ  được  hưởng  mức  thuế  suất  0%  ngay khi  Hiệp  định có  hiệu  lực khi  xuất khẩu sang Ca-na-đa, Pê-ru, Nhật  Bản.  Riêng vali và túi xách bằng  da, Nhật Bản xóa bỏ thuế  nhập khẩu vào năm thứ 16 kể từ  khi Hiệp định có hiệu lực. Đây là lần đầu tiên Nhật Bản cam  kết xóa bỏ thuế nhập khẩu cho vali, túi xách bằng da.

Hàng công nghiệp chế tạo khác

Phần  lớn  hàng  công  nghiệp  chế  tạo,  máy  móc,  thiết  bị,  điện,  điện  tử  khi  xuất khẩu  sang  các  nước  CPTPP  sẽ  được  hưởng  mức  thuế  suất  0%  ngay  khi  Hiệp  định có hiệu lực.

Cam kết thuế nhập khẩu của Việt Nam:

Việt Nam cam kết một biểu thuế chung cho tất cả các nước CPTPP. Theo đó, Việt Nam sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 66% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và 86,5% số dòng thuế sau 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Các mặt hàng còn lại có lộ trình giảm thuế chủ yếu từ 5 đến 10 năm.

Những  mặt  hàng  Việt  Nam  cam  kết  xóa  bỏ  thuế  nhập  khẩu  ngay  khi  Hiệp  định có  hiệu  lực  gồm:  động  vật  sống,  thức  ăn  gia  súc,  một  số  sản  phẩm  sữa,  ngũ  cốc, gạo,  da  và  sản  phẩm  da,  cao  su  và  sản  phẩm  cao  su,  chất  dẻo,  dược  phẩm,  thuốc trừ  sâu,  hóa  chất,  khoáng  sản,  một  số  loại  giấy,  nguyên  liệu  dệt  may,  da  giầy,  vải bông  các  loại,  sản  phẩm  dệt  may,  phân  bón,  nước  hoa,  mỹ  phẩm,  máy  móc  thiết bị, đồ nội thất, gỗ và sản phẩm gỗ, nhạc cụ, linh kiện điện tử.

Những  mặt  hàng Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan vào  năm  thứ 4 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực gồm: bánh kẹo, chè và cà phê, ngô ngọt, đồng hồ, hàng gia dụng, máy khâu, máy phát điện, đồ trang sức, vật liệu xây dựng, sữa, máy móc thiết bị, nhựa và sản phẩm nhựa, sản phẩm điện tử.

Nhóm mặt  hàng có lộ trình  xóa bỏ thuế  nhập khẩu vào  năm  thứ 6 kể từ  khi Hiệp định có hiệu lực gồm: dầu thực vật, chế phẩm rau quả, một số sản phẩm cao su.

 

Nhóm mặt hàng có lộ trình xóa bỏ thuế nhập khẩu vào  năm  thứ  8 kể từ  khi  Hiệp định có hiệu lực gồm: bộ phận linh kiện xe đạp xe máy, một số linh kiện ô tô, sản phẩm sắt thép, bánh kẹo, chế phẩm thủy sản, dầu mỡ động thực vật, rau quả, sắt thép, xe đạp nguyên chiếc, một số loại xe chuyên dụng, thịt lợn đông lạnh.

Đối với một số mặt hàng đặc biệt nhạy cảm, Việt Nam có lộ trình trên 10 năm, ví dụ như bia, rượu, thịt gà, sắt thép, ô tô con dưới 3.000 phân phối. Việt Nam áp dụng hạn ngạch thuế quan (TRQ) đối với đường, trứng, muối (nằm trong lượng hạn ngạch WTO) và ô tô đã qua sử dụng.

  • Đối xử quốc gia và mở cửa thị trường hàng hóa

Để  đảm bảo  các  nước thành  viên  không  duy  trì  hoặc  mở  rộng các rào cản thương mại khi đã cam kết xóa bỏ thuế quan, chương hàng hóa đã đưa vào tất cả các nghĩa vụ chung trong WTO  về hạn chế xuất nhập khẩu như đối xử quốc gia (NT), không áp  dụng hạn  chế  xuất  khẩu,  nhập khẩu, minh bạch hóa thủ tục cấp  phép nhập khẩu, tự  do quá cảnh  v.v…Tuy vậy, với mục tiêu nhằm  nhằm tăng cường tiếp cận thị trường và giảm các rào cản thương  mại giữa các nước CPTPP, CPTPP đã đưa ra một số quy định mang  tính ràng buộc cao hơn nghĩa vụ WTO. Có thể kể ra một số quy định chính như sau:

  1. Mở cửa thị trường hàng tân trang

Theo Hiệp định CPTPP,  hàng  tân  trang  là các hàng  hóa  phân loại  từ  các Chương 84 đến 90 hoặc nhóm 94.02, ngoại  trừ  hàng hóa được phân loại ở các nhóm 84.18, 85.09, 85.10, và  85.16, 87.03hoặc phân nhóm 8414.51, 8450.11, 8450.12, 8508.11 và  8517.11, thu được toàn bộ hoặc một phần từ các nguyên vật liệu được thu  hồi, có tuổi  thọ và chức năng giống hệt hoặc tương tự  hàng mới và có giấy bảo hành như hàng mới.

Các nước CPTPP cam kết kể từ khi Hiệp định CPTPP có  hiệu  lực sẽ cho phép nhập khẩu các loại  hàng tân trang kể cả khi cấm nhập khẩu hàng đã qua sử dụng cùng loại. Riêng Việt Nam sẽ chỉ  cho phép nhập khẩu loại hàng này (nhưng loại trừ xe máy, xe đạp và một số máy móc điện-điện tử gia dụng như  quạt  điện, máy điều  hòa  không khí, máy sấy, máy rửa bát, máy  giặt, máy hút  bụi,  v.v…) sau  năm kể từ khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực.

  1. Yêu cầu thực hiện

Yêu  cầu  thực  hiện  đưa  ra  những  nghĩa  vụ  đối  với  các  doanh  nghiệp,  chẳng  hạn như  yêu  cầu  một  tỉ  lệ  nhất  định  hàng  hóa  hoặc  dịch  vụ  phải  được  xuất  khẩu  hoặc

  1. Minh bạch hóa thủ tục cấp phép xuất khẩu

Các  nước  CPTPP  cam  kết  thông  báo  cho  nhau  thủ  tục  cấp  phép  xuất  khẩu  của mình  (nếu  áp  dụng),  bao  gồm:  các  mặt  hàng  thuộc  diện  cấp  phép,  đối  tượng  và tiêu  chí  cấp  phép.  Cam  kết  này  nhằm  ngăn  ngừa  việc  tạo  rào  cản  đối  với  xuất khẩu thông qua thủ tục cấp phép xuất khẩu.

  1. Xóa bỏ thuế xuất khẩu

Trong  khu  vực  CPTPP  có  2  nước  áp  dụng  thuế  xuất  khẩu  là  Việt  Nam  và  Ma-laixia.  Theo  Hiệp  định  này,  cả  2  nước  cam  kết  xoá  bỏ  thuế  xuất  khẩu,  ngoại  trừ  các nhóm mặt hàng được bảo lưu. Việt  Nam  cam  kết  xóa  bỏ  thuế  xuất  khẩu  đối  với  phần  lớn  các  mặt  hàng  hiện  đang áp  dụng  thuế  xuất  khẩu,  cơ  bản  theo  lộ  trình  từ  5-15  năm  kể  từ  khi  Hiệp  định  có hiệu  lực.  Một  số  nhóm  mặt  hàng  quan  trọng  như  than  đá,  dầu  mỏ  và  một  số  loại quặng, khoáng sản (70 mặt hàng) được tiếp tục duy trì thuế xuất khẩu, cụ thể:

–  Nhóm  khoáng  sản:  cát  (Chương 25), đá phiến  (2514),  đá  làm tượng đài hoặc xây dựng (2516), quặng  dolomite  (2518), quặng amiăng (2524), đá vôi (2521), quặng steatit (2526).

–  Nhóm quặng:  quặng  đồng  (2603),  cô ban (2605),  quặng  nhôm  (2606),  quặng chì (2607), quặng  kẽm  (2608),  quặng  urani  (2612), quặng thori (2612), quặng  titan (2614), quặng zircon (2615), quặng vàng (2616) và  quặng antimon (2617).

–  Nhóm than:  than  đá (2701), than  non (2702), than  bùn  (2703), và dầu thô (2709).

– Nhóm vàng (7108) và vàng trang sức (7113-7115).

Cũng như trong WTO, Hiệp định CPTPP cho  phép các  thành  viên bảo lưu quy định  cấm  xuất khẩu, nhập khẩu một số mặt hàng  với lý do bảo vệ sức khoẻ con người, môi trường, an  ninh quốc gia, an toàn xã  hội. Đối với Việt Nam, ta vẫn bảo lưu danh mục hàng hóa cấm xuất nhập khẩu như quy định hiện hành.

  • Hàng nông nghiệp
  1. Xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản

Các  nước  CPTPP  cam  kết  xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu đối với hàng nông sản kể từ khi Hiệp  định có hiệu lực. Đây cũng là xu hướng chung mà các thành viên WTO đang hướng tới.

  1. An ninh lương thực

WTO  cho  phép  các  thành viên áp dụng  các  biện  pháp  hạn  chế  xuất  khẩu  lương thực  tạm  thời  nhằm  mục  đích  bảo  đảm  an  ninh  lương  thực  khi  trong  nước  thiếu thốn  lương  thực  trầm  trọng.  Trong  Hiệp  định  CPTPP,  các  nước  cam  kết  sẽ  thông báo  cho  nhau  khi  một  nước  CPTPP  áp  dụng  biện  pháp  hạn  chế  xuất  khẩu  nhằm mục  đích  trên,  đồng  thời  cam  kết  tiến  hành  tham  vấn  và  trao  đổi  thông  tin  với các  nước  CPTPP  có  nhu  cầu  nhập  khẩu  mặt  hàng  lương  thực  liên  quan.  Cam  kết này  nhằm  đảm  bảo  những  nước  chủ  yếu  phải  nhập  khẩu  lương  thực  (chẳng  hạn như  Xinh-ga-po)  có  điều  kiện  tham  vấn,  tìm  giải  pháp  khắc  phục  khi  nguồn  nhập khẩu bị hạn chế.

  1. Không áp dụng tự vệ đặc biệt

Mặc  dù  Hiệp  định  Nông  nghiệp  của  WTO  cho  phép  các  thành  viên  áp  dụng  biện pháp  tự  vệ  đặc  biệt  để  bảo  hộ  nông  sản  trong  những  điều  kiện  nhất  định,  các nước  CPTPP  cam  kết  không  áp  dụng  biện  pháp  này  đối  với  hàng  nông  sản  có  xuất xứ từ khu vực CPTPP nhằm thúc đẩy thương mại trong khu vực.

  1. Thương mại đối với sản phẩm biến đổi gen

Các  nước  CPTPP  cam  kết,  khi  luật  pháp  trong  nước  cho  phép,  phổ  biến  cho  công chúng  các  hồ  sơ  cần  thiết  để  đăng  ký  lưu  hành  trên  thị  trường  các  sản  phẩm biến  đổi  gen,  danh  mục  các  sản  phẩm  biến  đổi  gen  đã  được  phép  lưu  hành,  báo cáo  và  phương  pháp  đánh  giá  rủi  ro  làm  cơ  sở  cho  việc  cấp  đăng  ký  lưu  hành  các sản  phẩm  này.  Nước  xuất  khẩu  sản  phẩm  thực  vật  chứa  công  nghệ  biến  đổi  gen phải  cung  cấp  cho  nước  nhập  khẩu  kết  quả  đánh  giá  rủi  ro  và  phương  pháp  đánh giá  đã  tiến  hành  đối  với  sản  phẩm  đó  nhằm  mục  đích  giảm  thiểu  nguy  cơ  xảy  ra sự  hiện  diện  cấp  thấp  (LLP)  của  các  tổ  hợp  biến  đổi  gen  (rDNA)  chưa  được  công nhận.  Các  nước  CPTPP  cũng  cam  kết,  tùy  thuộc  quy  định  của  luật  pháp  từng nước,  cho  phép  các  nhà  phát  triển  công  nghệ  nộp  đơn  đăng  ký  lưu  hành  trên  thị trường các sản phẩm biến đổi gen và xem xét các đơn này.

  • Quản lý hạn ngạch thuế quan

Hiện nay, Việt Nam đang quản lý hạn ngạch thuế quan  (TRQ) đối với 4 nhóm mặt hàng là  trứng gia cầm, đường, lá thuốc lá và muối trong  khuôn khổ WTO và các FTA đã ký kết.

CPTPP xây dựng  một  cơ  chế  quản  lý hạn ngạch  thuế  quan  theo tiêu chuẩn minh bạch, dễ  dự  đoán. Đây là  một cơ chế  mới, chưa từng  xuất  hiện  trong  bất  kỳ  Hiệp định nào mà ta đã  ký kết trước  đó. Cơ chế  này quy  định cụ  thể quy  trình vận hành,  quản  lý, phân bổ hạn ngạch  thuế  quan phù hợp với  Điều XIII  của GATT 1994 (bao gồm cả các ghi  chú  diễn  giải) và Hiệp  định  cấp  phép nhập  khẩu của WTO. Các mặt  hàng áp dụng TRQ trong  biểu  cam  kết thuộc Hiệp định CPTPP sẽ thuộc diện điều chỉnh của cơ chế quản lý hạn ngạch thuế quan này.

Cơ chế này quy định mọi thủ tục quản lý TRQ phải được công bố công khai, công bằng và bình đẳng, không gây cản trở thương mại và  phù hợp với điều kiện thị trường, được quản lý theo phương thức  nhanh chóng, kịp  thời. Mọi thông tin về quản lý TRQ, bao gồm lượng hạn ngạch, điều  kiện để  được cấp  hạn ngạch, thủ tục nộp đơn, thời  hạn  nộp đơn, phương thức và thủ tục phân  bổ, tái phân bổ đều phải được công khai hóa trên trang thông tin của chính  phủ  để đảm bảo tính minh bạch. Cơ chế này cũng quy định chi  tiết các quy định về phân bổ, các thủ tục trả lại hạn ngạch nếu không dùng hết và tái phân bổ hạn ngạch, các yêu cầu về minh bạch hóa.

Về diện mặt hàng áp dụng TRQ trong Hiệp định CPTPP, Việt Nam cam kết dành một lượng hạn ngạch riêng với số lượng rất hạn chế cho các nước CPTPP đối  với các  mặt  hàng  lá thuốc  lá và ô tô  đã qua  sử  dụng. Các mặt  hàng  như  đường, trứng gia cầm và  muối  sử dụng lượng  hạn ngạch chung trong cam kết WTO của ta. Tất cả các mặt hàng này đều áp dụng cơ chế quản lý TRQ được quy định trong Hiệp định CPTPP.

  • Dệt may

Hiệp định CPTPP là FTA đầu tiên Việt Nam tham gia có  chương riêng về dệt may (chương 4). Ngoài việc áp dụng quy định chung như các hàng hóa khác tại các chương Thương mại  Hàng hóa, Quy  tắc Xuất  xứ, Phòng vệ Thương mại, Hợp tác Hải quan, dệt may có những quy định riêng mang tính đặc thù. Chương Dệt may bao gồm các quy tắc xuất xứ cụ thể yêu cầu việc sử dụng sợi và vải từ  khu vực CPTPP – điều này sẽ thúc đẩy việc thiết  lập các chuỗi cung ứng và đầu tư khu vực trong lĩnh vực  này. Chương cũng có những  quy định linh  hoạt  về cơ chế “nguồn cung thiếu hụt” cho phép sử  dụng một số loại sợi và vải nhất định không có sẵn trong khu vực. Ngoài ra, Chương này gồm các cam kết về hợp tác và thực thi hải quan nhằm  ngăn chặn việc trốn thuế, buôn lậu và gian lận cũng như cơ chế tự vệ đặc biệt đối với dệt may để đối phó với thiệt hại nghiêm trọng hoặc nguy cơ bị thiệt hại nghiêm trọng đối với ngành sản xuất trong nước trong trường hợp có sự gia tăng đột biến về nhập khẩu.

Nội dung cam kết về dệt may bao gồm:

  • Các quy tắc xuất xứ cụ thể yêu cầu việc sử dụng sợi và vải từ khu vực CPTPP nhằm mục đích thúc đẩy việc thiết lập các chuỗi cung ứng và đầu tư trong khu vực để tăng giá trị của hàng dệt may được sản xuất trong khối.
  • Quy định linh hoạt về cơ chế “nguồn cung thiếu hụt” cho phép việc sử dụng một số loại sợi và vải nhất định không có sẵn trong khu vực.
  • Các cam kết về hợp tác và thực thi hải quan nhằm ngăn chặn việc trốn thuế, buôn lậu và gian lận thương mại.
  • Cơ chế tự vệ đặc biệt đối với hàng dệt may để đối phó với thiệt hại nghiêm trọng hoặc nguy cơ bị thiệt hại nghiêm trọng đối với ngành sản xuất trong nước trong trường hợp có sự gia tăng đột biến về nhập khẩu (khác với cơ chế tự vệ chung của Hiệp định).

Về mở cửa thị trường hàng dệt may

Hiệp định CPTPP sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với hàng dệt may có xuất xứ từ Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường các nước đối tác (ngay hoặc có lộ trình). Đối với những nước mà Việt Nam chưa có FTA, việc mở cửa thị trường này rất quan trọng, do thuế nhập khẩu áp dụng với hàng dệt may thường cao hơn nhiều so với các mặt hàng công nghiệp khác.

Với thị trường Ca-na-đa, toàn bộ mặt hàng dệt may xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sẽ được xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc sau 3 năm.  42,9% kim ngạch xuất khẩu vào Ca-na-đa có thuế 0% năm đầu tiên và 57,1% kim ngạch có thuế 0% vào năm thứ 4.  Trong khi đó, Nhật Bản sẽ xóa bỏ 98,8% dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, tương đương với 97,2% kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam sang Nhật Bản. Đối với một số thị trường mà Việt Nam chưa có FTA như Pê-ru và Mê-hi-cô, thuế nhập khẩu của hàng dệt may được xóa bỏ hoàn toàn vào năm thứ 16.

Về quy tắc xuất xứ đối với hàng dệt may  

Đối với hàng dệt may, quy tắc xuất xứ được áp dụng là “từ sợi trở đi” hay được gọi quy tắc “3 công đoạn”, nghĩa là toàn bộ quá trình kéo sợi, dệt vải, nhuộm, hoàn tất và may quần áo phải được thực hiện trong nội khối CPTPP. Quy tắc này khuyến khích phát triển chuỗi cung ứng ngành công nghiệp dệt may theo ngành dọc, khuyến khích đầu tư phát triển ngành sợi, vải, tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng trong nội khối CPTPP.

So với các FTA trước đây mà Việt Nam đã ký kết, đây là quy tắc đưa ra yêu cầu ở mức cao. Tuy nhiên, các thành viên cũng thống nhất một số trường hợp có quy tắc xuất xứ mang tính linh hoạt hơn như:

  • 3 nhóm hàng may mặc được áp dụng quy tắc xuất xứ 1 công đoạn, cắt và may, gồm vali, túi xách, áo ngực phụ nữ, quần áo trẻ em bằng sợi tổng hợp;
  • Danh mục nguồn cung thiếu hụt gồm 194 loại sợi, vải được phép sử dụng từ ngoài khu vực CPTPP, trong đó 186 mặt hàng sẽ được áp dụng vĩnh viễn và 8 mặt hàng chỉ được áp dụng cơ chế này trong vòng 5 năm.

Tự vệ và hợp tác hải quan

Hiệp định CPTPP cho phép  nước  nhập khẩu  áp  dụng  biện  pháp tự vệ, tăng thuế ưu đãi trở lại mức thuế tối huệ quốc (MFN)  nếu lượng nhập khẩu từ các nước CPTPP có khả năng gây ra hoặc  gây ra thiệt hại nghiêm  trọng  đến ngành sản xuất trong nước. Khi  áp dụng biện  pháp tự vệ, nước nhập  khẩu phải có giải pháp đền bù  thiệt  hại về  kinh tế  mà  nước xuất  khẩu phải gánh chịu do không  được hưởng thuế ưu đãi như trong Hiệp định.

Để  nội  luật  hóa  các  cam  kết  này, Bộ Công Thương đã ban  hành Thông tư  số 19/2019/TT-BCT ngày 30 tháng 9 năm 2019 quy  định về  áp dụng các  biện  pháp tự vệ  đặc biệt để thực thi Hiệp  định CPTPP. Cụ thể, Thông tư quy định việc áp dụng biện pháp  khẩn cấp đối với hàng dệt  may khi  kết  luận điều tra của Cơ quan điều tra có: (i) sự gia tăng nhập khẩu tuyệt đối hoặc tương đối so với khối lượng, số lượng sản xuất  trong  nước  của hàng  dệt may bị điều tra từ một hay nhiều nước thành viên do kết quả hưởng ưu đãi thuế quan  theo Hiệp  định CPTPP, và (ii) ngành  sản xuất trong nước bị thiệt  hại nghiêm trọng  hoặc bị đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng do sự  gia tăng nhập khẩu trên đây gây ra.

Các  nước CPTPP  thống  nhất  hợp tác chặt chẽ trong  lĩnh  vực  hải quan, chống gian lận  xuất  xứ để  hưởng lợi bất hợp pháp  thuế  ưu đãi CPTPP. Cũng với mục tiêu này, doanh nghiệp  sản  xuất,  xuất  khẩu  dệt  may sang Mê-hi-cô sẽ đăng ký các thông  tin  cơ  bản  về  doanh  nghiệp, mặt hàng sản xuất, xuất khẩu để chia  sẻ thông tin với các cơ quan chức năng Mê-hi-cô phục vụ công  tác đánh giá rủi ro trong lĩnh vực hải quan, phòng chống gian lận thương mại.Về  phía Việt Nam, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 07/2019/TT-BCT ngày 19 tháng 4 năm 2019 quy định  thương nhân  xuất  khẩu  hàng dệt  may sang  Mê-hi-cô  theo  CPTPP (bao gồm cả thương  nhân xuất khẩu theo hạn ngạch  thuế quan và cả thương nhân  xuất khẩu không theo hạn  ngạch  thuế  quan) phải đăng ký thông tin với Bộ Công Thương để  thực hiện cơ chế giám sát hàng dệt may xuất khẩu sang Mê-hicô theo CPTPP.

  • Quy tắc xuất xứ

Hiệp định quy định 3 phương pháp để xác định xuất xứ của một hàng hóa, bao gồm: (i) hàng hóa có xuất xứ thuần túy; (ii) hàng hóa được sản xuất từ nguyên liệu trong khu vực CPTPP; và (iii) quy tắc cụ thể đối với từng mặt hàng (PSR).

Bên cạnh đó, quy tắc cộng gộp cho phép các nước CPTPP được coi nguyên liệu của một hoặc nhiều nước CPTPP khác như là nguyên liệu của nước mình khi sử dụng nguyên liệu đó để sản xuất ra một hàng hóa có xuất xứ CPTPP.

Quy định về hàng tân trang

So với các FTA khác, Hiệp định CPTPP có thêm quy định về hàng tân trang. Quy định  này  giúp  bảo vệ  môi  trường và tạo  thêm  việc  làm  cho  người  lao  động.  Theo đó,  các  nguyên liệu  thu  được  từ  việc  tháo  dỡ  hàng  đã  qua  sử  dụng,  xử  lý,  làm sạch,  đưa  về  điều  kiện  hoạt  động  tốt  sẽ  được  coi  là  nguyên  liệu  có  xuất  xứ  (không cần  đáp  ứng  PSR)  và  những  nguyên  liệu  này  được  lắp  ráp  thành  sản  phẩm  có  xuất xứ  CPTPP.  Quy  định  này  giúp  giảm  bớt  nguyên  liệu  nhập  khẩu  từ  các  nước  ngoài khối  CPTPP,  tận  dụng  tối  ưu  nguồn  nguyên  liệu  được  tháo  dỡ  từ  trong  nước,  giúp bảo  vệ  môi  trường  do  không  phải  sản  xuất  thêm  nguyên  liệu,  tận  dụng  được nguồn  nhân  công  trong  nước,  giảm  giá  thành  sản  xuất  nhưng  vẫn  đảm  bảo  chất lượng như hàng mới. Bên cạnh đó, giúp người mua chỉ phải trả giá ở mức thấp.

Quy định về quy tắc xuất xứ cho bộ hàng hoá

Hiệp định  CPTPP  đưa  ra  một  số  quy  định mới về  quy  tắc  bộ  hàng hóa  theo  Quy tắc  3(c)  của  Quy tắc chung  của  diễn  giải của Hệ thống hài hòa  với  linh  hoạt  cho phép hàng hóa  không có xuất  xứ  trong  bộ  chiếm  10%  trị  giá  của  bộ hàng  hóa. Hiệp định  CPTPP  cũng  cho  phép  linh  hoạt  sử  dụng giá FOB thay cho giá CIF khi tính trị  giá  nguyên  vật  liệu  không có xuất xứ  trong  cách  tính gián tiếp khi  tính hàm lượng giá trị khu vực (RVC) giúp doanh nghiệp dễ đạt RVC hơn.

Quy định về cách tính Hàm lượng giá trị khu vực (RVC)

Về cách  tính RVC, ngoài  cách  tính  trực  tiếp  và  gián  tiếp,  Hiệp  định CPTPP  có thêm  quy  định về cách tính trị giá  tập trung  (thêm  linh hoạt nhất định) và cách tính theo chi phí tịnh (chỉ áp dụng đối với ô tô và phụ tùng ô tô).

Quy định về tỷ lệ De Minimis

Hiệp định CPTPP cho phép áp dụng tỷ lệ linh hoạt (De  Minimis)  đối với nguyên liệu không  xuất  xứ  không đáp ứng tiêu  chí  tại  PSR  là 10%  giá  trị hàng hoá đang được  xét  xuất  xứ. Tuy  nhiên, Hiệp định cũng quy định một số  trường hợp  ngoại lệ không  được phép  áp  dụng  tỷ  lệ De Minimis đối với nguyên liệu sử dụng để sản xuất mặt hàng  bơ sữa, chế  phẩm từ bơ sữa, một số loại  nước  ép hoa quả hay một số loại dầu ăn.

Thủ tục chứng nhận xuất xứ

Với mục tiêu tạo thuận lợi thương mại tối đa, giảm thời gian giao dịch và chi phí xuất nhập khẩu, Hiệp định CPTPP đã cho phép người xuất khẩu, người sản xuất và người nhập khẩu được tự chứng nhận xuất xứ. Đây là điểm rất mới so với các FTA truyền thống trước đây mà Việt Nam đã ký kết.

Đối với Việt Nam, do hình thức tự chứng nhận xuất xứ còn khá mới mẻ, chưa được triển khai toàn diện và đại trà nên ta được áp dụng một số thời gian chuyển đổi nhằm mục đích tạo cơ hội cho các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước quen dần với hình thức này. Một số quy định về thời gian chuyển đổi bao gồm:

  • Đối với hàng nhập khẩu: Việt Nam được bảo lưu chỉ áp dụng hình thức nhà nhập khẩu tự chứng nhận xuất xứ sau 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.
  • Đối với hàng xuất khẩu: ta được linh hoạt áp dụng song song 2 hình thức: (a) cấp chứng nhận xuất xứ (C/O) theo kiểu truyền thống; và (b) người xuất khẩu đủ điều kiện được tự chứng nhận xuất xứ trong thời gian tối đa 10 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Sau thời gian 10 năm này, Việt Nam sẽ áp dụng cơ chế tự chứng nhận xuất xứ hoàn toàn như tất cả các nước CPTPP.

Về quy tắc xuất xứ cụ thể mặt hàng

Tương  tự  như  các  hiệp  định  FTA  khác,  Hiệp  định  CPTPP  cũng  quy  định  một  danh mục  quy  tắc  cụ  thể  mặt  hàng  (PSR).  Một  số  tiêu  chí  xuất  xứ  trong  PSR  mang  tính chất  đặc  thù  và  áp  dụng  đối  với  các  mặt  hàng  xuất  khẩu  chủ  lực  của  Việt  Nam  bao gồm:

Đối với các mặt hàng hóa chất, xăng dầu:

Quy  tắc  phản  ứng  hóa  học,  tách  đồng  phân,  thay  đổi  kích  hạt,  nguyên  vật  liệu tiêu  chuẩn,  tinh  chế,  phối  trộn  trực  tiếp,  chưng  chất,  pha  loãng  được  áp  dụng song song bên cạnh quy tắc chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC).

Đối với mặt hàng giày dép:

Quy tắc chuyển đổi mã số hàng hóa khá  linh  hoạt, cho  phép  sử  dụng không  giới hạn  nguyên  liệu nằm ngoài Chương 64 (giày  dép) nhập  khẩu  bên  ngoài  CPTPP nhưng  giới  hạn việc sử  dụng  một  số  bộ  phận  giày dép không xuất xứ để sản xuất giày  dép xuất  khẩu, kèm theo quy định hàm lượng giá trị khu vực đạt ít  nhất  45% (theo cách tính trực tiếp) hoặc 55% (theo cách tính gián tiếp).

Đối với nhóm mặt hàng nông lâm thủy sản:

Đối  với  hàng  thủy  sản:  cho  phép  sử  dụng  con  giống  nhập  khẩu  bên  ngoài  CPTPP. Ngoài ra, tiêu chí xuất xứ cho một số mặt hàng cụ thể như sau:

Cá  ngừ:  Cá  ngừ  là  mặt  hàng  nhạy  cảm  với  Nhật  Bản  và  Mê-xi-cô  nên  tiêu  chí  xuất xứ  đối  với  cá  ngừ  hướng  đến  kiểm  soát  chặt  chẽ  việc  sử  dụng  cá  ngừ  nguyên  liệu bên  ngoài  CPTPP  (Nhật  Bản  lo  ngại  về  nguồn  gốc  cá  ngừ  đánh  bắt  có  hợp  pháp hay  không).  Tiêu  chí  xuất  xứ  cho  cá  ngừ  đòi  hỏi  gần  như  xuất  xứ  thuần  túy  của CPTPP.

Tôm, cua:  Tôm, cua chế biến được phép sử dụng nguyên liệu bên ngoài CPTPP.

Cà  phê:  Cà  phê  đã  rang  có  linh  hoạt  nhất  định,  được  sử  dụng nguyên  liệu  cà  phê chưa  rang  bên  ngoài  CPTPP tới  60%  khối lượng  nguyên liệu  sử  dụng để chế biến hàng hóa. Cà phê  hòa  tan được sử dụng nguyên liệu không hạn chế bên ngoài CPTPP.

Chè: chè xanh chưa ủ  men  đóng  gói  sẵn  trọng lượng  không  quá 3kg có thêm quy tắc linh hoạt hàm lượng giá trị khu vực 40%.

Hạt điều: mặt  hàng  xuất khẩu thế mạnh là điều đã bóc vỏ đạt được quy tắc linh hoạt cho phép sử dụng nguyên liệu bên ngoài  CPTPP, tạo linh hoạt cho doanh nghiệp xuất khẩu điều của Việt Nam

Quy tắc xuất xứ đối với ô tô và phụ tùng ô tô:

Về cơ bản, tiêu chí xuất xứ cho ô tô và phụ tùng ô tô gồm 3 nội dung chính: Tiêu chí xuất xứ cho ô tô nguyên chiếc (thuộc  nhóm  8701.10  đến 8701.30 và 8702 đến 8705): áp dụng tiêu chí  xuất xứ  hàm  lượng giá  trị  khu  vực  (RVC) 55%  theo cách tính gián tiếp hoặc  45% theo cách tính chi  phí tịnh đi kèm linh hoạt khi xác định xuất xứ cho 7 phụ  tùng (gồm thân xe, kính, ba-đờ-xốc, cầu  chủ  động có vi  sai và các trục không lái …).  7 phụ tùng  này không cần  đáp ứng PSR, chỉ cần  được sản  xuất  tại  CPTPP, được  sử  dụng các  nguyên  phụ  liệu không giới  hạn  bên  ngoài CPTPP trong  quá  trình  sản  xuất và vượt quá  một  số công đoạn  gia công  (có quy định  cụ  thể các công đoạn gia  công này) là được coi  có xuất  xứ  CPTPP và được cộng vào RVC cho ô tô thành phẩm.

Tiêu  chí  xuất  xứ  cho  các  bộ  phận  chính  gồm  động  cơ,  hộp  số,  bộ  phận  lái,  hệ  thống giảm  chấn,  phanh,  v.v.  là  RVC  55%  (theo  cách  tính  gián  tiếp)  hoặc  45%  theo  cách tính  chi  phí  tịnh  với  linh  hoạt  cho  phép  sử  dụng  nguyên  phụ  liệu  bên  ngoài CPTPP  chiếm  5-10%  trị  giá  thành  phẩm  (tùy  từng  bộ  phận),  chỉ  cần  các  bộ  phận kể trên được sản xuất tại CPTPP và vượt qua một số công đoạn gia công.

Tiêu  chí  xuất  xứ  cho  các  bộ  phận  khác:  RVC  40%  hoặc  quy  tắc  chuyển  đổi  mã  số hàng hóa.

  • Quản lý Hải quan và Hợp tác thương mại (QLHQ)

Chương  QLHQ  đặt ra các quy định yêu cầu các nước  CPTPP  đơn giản  hóa  thủ  tục hải  quan,  tạo  điều  kiện  thúc  đẩy  hoạt  động  trao đổi  thương  mại  giữa  các  nước CPTPP.  Bên  cạnh  đó, chương  này cũng khuyến  khích  cơ  quan  hải  quan  tại  các nước CPTPP  tăng cường  hợp  tác  với  nhau  để  xây  dựng  thủ  tục  hải quan thuận lợi và  hiệu  quả, đảm bảo tính  rõ  ràng và công bằng cho  các  doanh  nghiệp.  Nội  dung chính của chương này bao gồm:

  1. Minh bạch hóa

Các  nước  CPTPP  phải  công  bố  trên  mạng  và  bằng  tiếng  Anh  nếu  có  thể,  các  luật lệ  về  hải  quan,  các  quy  định  và  thủ  tục.  Các  nước  CPTPP  cũng  đồng  ý  thiết  lập các điểm hỏi đáp để doanh nghiệp có thể trực tiếp đặt câu hỏi.

  1. Giải phóng hàng

Các  nước  CPTPP  cam  kết  đảm  bảo  hàng  hóa  di  chuyển  qua  biên  giới  càng  nhanh càng  tốt  và  trong  chừng  mực  có  thể,  sẽ  được  giải  phóng  trong  vòng  48  giờ  kể  từ khi  hàng  đến.  Để  ngăn  ngừa  sự  chậm  trễ  trong  trường  hợp  các  cán  bộ  hải  quan không  đưa  ra  được  quyết  định  về  số  thuế,  lệ  phí  còn  nợ,  thì  chương  này  sẽ  đảm bảo  hàng  hóa  đó  có  thể  được  giải  phóng  trên  cơ  sở  đóng  bảo  lãnh  hoặc  tạm  thanh toán thuế.

  1. Xác định trước

Nhận  thấy  các  nhà  xuất  khẩu  cần  phải  biết  hàng  hoá  của  mình  sẽ  được  xử  lý  thế nào  khi  đến  cảng  nước  ngoài,  chương  QLHQ  yêu  cầu  các  nước  CPTPP  phải  xác định  trước  về  các  vấn  đề  hải  quan  quan  trọng,  bao  gồm  cả  định  giá  hải  quan, trước  khi  hàng  hóa  được  vận  chuyển.  Quy  định  này  cũng  bao  gồm  các  cam  kết của  các  nước  CPTPP  đưa  ra  kết  quả  xác  định  càng  nhanh  càng  tốt  –  không  muộn hơn  150  ngày  –  sau  khi  nhận  được  yêu  cầu,  và  để  đảm  bảo  rằng  các  xác  định  này có hiệu lực cho ít nhất ba năm.

  1. Hàng phát chuyển nhanh

Do tầm quan trọng của chuyển phát  nhanh đến khả năng  cạnh  tranh của các doanh nghiệp – đặc biệt là các doanh nghiệp vừa  và  nhỏ  –  chương QLHQ đòi  hỏi hải  quan  các nước  CPTPP  phải  xử  lý  khẩn trương  các  lô  hàng  phát  chuyển nhanh. Điều  này  sẽ  giúp  di  chuyển  nhanh  các  lô  hàng  qua  biên  giới  bằng  cách  tinh  giản các  chứng  từ  cần  thiết  để  chuyển  những  lô  hàng  đó.  Vì  các  lô  hàng  chuyển  phát nhanh  có các hình  dạng  và  kích  cỡ  khác nhau,  nên  các  nước  CPTPP  đã  đồng  ý loại  bỏ  bất  kỳ  hạn  chế  hiện  hành  nào  về  xử  lý  hải  quan  đối  với  hàng  hóa  vượt  quá trọng  lượng  hoặc  giá  trị  nhất  định.  Ngoài  ra,  các  nước  CPTPP  sẽ  không  tính  thuế hải  quan  đối  với  các lô  hàng có giá trị dưới  mức  quy  định  của  mỗi  chính  phủ  để đẩy nhanh  hơn  nữa  việc  vận  chuyển  hàng hóa và giảm  yêu  cầu  về  chứng  từ  tài liệu. CPTPP  tạm hoãn nghĩa vụ liên  quan  đến việc  định  kỳ  xem xét  ngưỡng miễn thuế có tính đến  các  yếu  tố  liên quan khác như  tỉ lệ lạm phát, yếu tố ảnh hưởng  đến tạo  thuận  lợi  cho thương mại, ảnh  hưởng  về  quản  lý  rủi ro, chi  phí  hành  chính của việc thu thuế  so  với  số  thuế,  chi  phí thu được qua biên giới, ảnh hưởng  đối với  doanh  nghiệp nhỏ và vừa hoặc  các yếu tố khác liên quan đến thu thuế hải quan.

  • Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT)

Chương TBT được xây dựng với mục tiêu hạn chế các hàng rào kỹ thuật không cần thiết đối với  thương  mại, tăng cường minh  bạch hóa, thúc đẩy hợp tác trong quản lý và thực hành với mục tiêu  tạo điều kiện thuận lợi hơn cho thương mại. Bên cạnh  đó, chương  TBT cũng bảo đảm đầy đủ quyền của các chính phủ trong việc quản lý sản  phẩm  và  các  quy trình  sản  xuất đối với sức khỏe cộng  đồng,  chất lượng  môi  trường, và  các  mục  tiêu  chính  sách  công  khác. Nội  dung  chính  của chương này bao gồm:

  1. Đánh giá sự phù hợp

Các nước CPTPP sẽ dành “đối xử quốc gia” cho các cơ quan đánh giá sự phù hợp của nước khác, mà  theo  đó,  việc  thử  nghiệm  và  cấp  chứng nhận  nếu  được  thực hiện  bởi  một  một  cơ  quan  đánh  giá  sự  phù  hợp  của  nước  khác  sẽ  được  chấp  nhận là  xác  nhận  rằng  các  sản  phẩm,  dịch  vụ  hoặc  hệ  thống  của  nước  đó  đáp  ứng  được yêu  cầu  của  nước  CPTPP  kia.  Quy  định  này  sẽ  tạo  điều  kiện  dễ  dàng  hơn  cho  các nhà  xuất  khẩu  chỉ  phải  làm  thử  nghiệm  hoặc  chứng  nhận  một  lần  trước  khi  tiếp cận  thị  trường  các  nước  CPTPP  khác,  giúp  giảm  chi  phí  và  gánh  nặng  cho  các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ.

  1. Minh bạch hóa

Chương  TBT đảm  bảo  rằng  các  bên  liên  quan  và  các  bên  có  quan  tâm  từ  các  nước CPTPP  có  cơ  hội  tham  gia  vào  việc  phát  triển  các  quy  chuẩn  kỹ  thuật,  tiêu  chuẩn và  các  thủ  tục  đánh  giá  sự  phù  hợp  với  các  cơ  quan  chính  phủ.  Thí  dụ  các  nước CPTPP  sẽ  công  bố  quy  chuẩn  kỹ  thuật  mới  và  quy  trình  đánh  giá  sự  phù  hợp,  tạo cơ  hội  cho  công  chúng  nhận  xét,  giải  thích  các  quy  định  chính  thức  và  thủ  tục đánh  giá  phù  hợp  của  một  quốc  gia  CPTPP  đáp  ứng  thế  nào  với  các  mục  tiêu  đưa ra; và cung cấp câu trả lời cho các vấn đề lớn được nêu.

  1. Thời gian tuân thủ

Chương  TBT  đảm  bảo  một  khoảng  thời  gian  hợp lý giữa  công bố  các  quy định  và thời  điểm  có  hiệu  lực  để các bên liên  quan có  đủ  thời gian  đáp ứng các yêu cầu mới. Tương tự  như  vậy,  các  nước  CPTPP  đã  cam  kết  cung  cấp  dành  cho  các nhà sản xuất  một khoảng  thời  gian  hợp  lý để chứng minh sự  phù  hợp của hàng hoá của mình với các yêu cầu có liên quan.

  1. Các phụ lục

Chương  TBT  bao  gồm  một  số  phụ  lục  cho  các  lĩnh  vực  cụ  thể  để  thúc  đẩy  các phương pháp quản lý chung cho toàn khu vực, bao gồm những phụ lục sau:

Phụ lục về mỹ phẩm, thiết bị y tế và dược phẩm

Phụ  lục  về  mỹ  phẩm,  thiết  bị  y  tế  và  dược  phẩm  khuyến  khích  việc  áp  dụng  các thông  lệ  thực  hành  minh  bạch  và  mở  trong  quản  lý  các  sản  phẩm  trong  các  lĩnh vực  này.  Ví  dụ,  các  nước  CPTPP  sẽ  phải  xem  xét  các  hướng  dẫn  khoa  học  và  kỹ thuật  có  liên  quan  khi  xây  dựng  các  quy  định,  cấp  phép  marketing  dựa  trên  các tiêu  chí  cụ  thể  và  công  khai  sẵn  có,  đưa  ra  lý  do  để  từ  chối  các  đơn  xin  và  thiết lập  các  thủ  tục  cho  phép  kháng  cáo  để  các  nhà  xuất  khẩu  không  bị  phân  biệt  đối xử không công bằng hoặc tùy ý ở các thị trường CPTPP.

Phụ lục về các sản phẩm công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)

Phụ  lục  về  ICT  bao  gồm  các  sản  phẩm  thương  mại  có  chứa  mật  mã  và  thúc  đẩy khả  năng  tương  thích  về  điện  từ  của  các  sản  phẩm  thiết  bị  công  nghệ  thông  tin. Đối  với  các  sản  phẩm  công  nghệ  thông  tin  có  chứa  mật  mã,  các  nước  CPTPP  cam kết  không  tiết  lộ  thông  tin  độc  quyền  để  phù  hợp  với  các  quy  chuẩn  kỹ  thuật  hoặc quy trình đánh giá sự  phù hợp.

Phụ lục về rượu vang và rượu chưng cất

Phụ  lục về rượu vang và  rượu  chưng cất thiết lập các  thông  số  cho  việc  ghi  nhãn sản  phẩm, trong khi  vẫn  giữ  khả  năng của các  nhà  quản  lý  nhằm  bảo vệ  người tiêu  dùng. Chương  này  đưa  ra  một  định  nghĩa chung về  “rượu vang” và “rượu chưng  cất,”  để  tạo  thuận  lợi  cho thương mại các sản phẩm  này, và cũng  quy  định về  ghi  nhãn  phụ  của rượu vang và rượu chưng cất. Các nước  CPTPP  cam  kết không từ chối các lô hàng nhập  khẩu  nếu  chỉ  vì  sử  dụng  một  số  thuật  ngữ và tính từ mô tả nào có liên quan đến rượu vang hoặc việc làm rượu vang.

Công thức của sản phẩm thực phẩm

Các nước CPTPP được quyền yêu cầu  các công ty cung cấp thông tin về  thực phẩm đóng gói và phụ gia thực phẩm. Đồng thời, chương này bảo vệ cho lợi  ích thương  mại  chính đáng và thông tin  độc quyền của các doanh nghiệp bằng cách yêu cầu các nước CPTPP  đảm bảo bí mật thông tin liên quan đến công thức độc quyền  mà  các  nước  này  đòi  hỏi  các  doanh  nghiệp  cung  cấp  nhằm  đáp  ứng  các quy  chuẩn  và  các  tiêu  chuẩn  và  quy  chuẩn  kỹ  thuật  liên  quan  đến  thực  phẩm đóng gói và phụ gia thực phẩm.

Sản phẩm hữu cơ

Phụ  lục  về  các  sản  phẩm  hữu  cơ  thúc  đẩy  hoạt  động  trao  đổi  thương  mại  sản phẩm  hữu  cơ  và  khuyến  khích  sự  hợp  tác  giữa  các  bên  về  các  vấn  đề  liên  quan đến sản xuất, chế biến, hoặc ghi nhãn sản phẩm hữu cơ.

  • Dịch vụ và đầu tư

Hiệp định CPTPP quy định 4 nghĩa vụ chủ chốt là:

  • Đối xử quốc gia (NT): Nước thành viên phải đảm bảo các nhà cung cấp dịch vụ của nước CPTPP khác được đối xử không kém thuận lợi hơn các nhà cung cấp dịch vụ trong nước.
  • Đối xử tối huệ quốc (MFN): Nước thành viên phải đảm bảo các nhà cung cấp dịch vụ của một nước CPTPP được đối xử không kém thuận lợi hơn các các nhà cung cấp dịch vụ của các nước thành viên khác hoặc của bất cứ nước hay vùng lãnh thổ không phải là thành viên của hiệp định.
  • Tiếp cận thị trường (MA): Nước thành viên không được phép duy trì các biện pháp hạn chế tiếp cận thị trường đối với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Các biện pháp hạn chế tiếp cận thị trường được phân chia thành 5 loại như sau: (i) Hạn chế về số lượng nhà cung cấp dịch vụ; (ii) Hạn chế về tổng giá trị các giao dịch hoặc tài sản; (iii) Hạn chế về tổng số hoạt động dịch vụ hoặc số lượng dịch vụ cung cấp; (iv) Hạn chế về số lượng lao động; và (v) Hạn chế về hình thức thành lập doanh nghiệp.
  • Hiện diện tại nước sở tại (LP):Nước thành viên không được yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ của nước CPTPP phải thiết lập hoặc duy trì văn phòng đại diện hay bất cứ hình thức công ty nào hay yêu cầu họ phải đáp ứng yêu cầu về thường trú như là điều kiện để được cung cấp dịch vụ.
  • Lao động

Các tiêu chuẩn lao động của ILO

Với cách tiếp cận người lao động là người trực tiếp làm ra các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trong thương mại quốc tế nên trước hết họ phải được hưởng thành quả của quá trình này, năm 1998, ILO đã ra Tuyên bố về những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động và đến năm 2008 tiếp tục thông qua Tuyên bố về thúc đẩy việc bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quá trình toàn cầu hóa công bằng. Đây cũng là cách tiếp cận của các FTA thế hệ mới và đang trở thành xu thế trên toàn cầu (nếu như vào thời điểm thành lập WTO năm 1995 mới có 4 hiệp định FTA có nội dung về lao động, thì đến tháng 01 năm 2015 đã có 72 hiệp định FTA quy định về nội dung này).

Hiệp định CPTPP là một hiệp định FTA thế hệ mới có quy định nội dung về lao động, nhưng không đưa ra tiêu chuẩn riêng mà chỉ áp dụng theo các tiêu chuẩn về lao động đã được nêu trong Tuyên bố năm 1998 về Những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động của ILO, thể hiện trong 8 Công ước cơ bản, bao gồm các nội dung: (1) Quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động và người sử dụng lao động (theo Công ước số 87 và số 98); (2) Xóa bỏ lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc (theo Công ước số 29 và số 105); (3) Cấm sử dụng lao động trẻ em, xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (theo Công ước số 138 và số 182); (4) Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp (theo Công ước số 100 và số 111).

Việt Nam là thành viên của ILO từ năm 1992, đã phê chuẩn 5/8 Công ước cơ bản của ILO (bao gồm các Công ước số 29, 100, 111, 138 và 182) và đang chuẩn bị trình cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn đối với 3 Công ước cơ bản còn lại (các Công ước số 87, 98 và 105). Nhưng theo Tuyên bố năm 1998 của ILO thì các nước thành viên dù đã phê chuẩn hay chưa phê chuẩn các Công ước cơ bản nêu trên đều có nghĩa vụ tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện các tiêu chuẩn lao động được đề cập trong các Công ước đó. Như vậy, trên thực tế Việt Nam đã và đang thực hiện các quy định của ILO theo kế hoạch chủ động của mình.

 Những nội dung chính về lao động trong Hiệp định CPTPP

  • Về những nội dung liên quan đến xóa bỏ lao động cưỡng bức, lao động trẻ em, xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động thì về cơ bản, hệ thống pháp luật của Việt Nam đã phù hợp với các tiêu chuẩn của ILO và cam kết của Hiệp định. Việt Nam đã và đang triển khai một số chương trình hành động quốc gia để thực thi các tiêu chuẩn trên trong thực tiễn. Đối với cam kết về đảm bảo điều kiện lao động liên quan tới lương tối thiểu, giờ làm việc và an toàn lao động, hệ thống luật pháp của Việt Nam về cơ bản đã quy định đầy đủ về những nội dung này nên không có yêu cầu về việc sửa đổi, bổ sung.
  • Về quyền thành lập tổ chức đại diện của người lao động, theo Hiệp định CPTPP và cũng phù hợp với quy định của ILO, Việt Nam và tất cả các nước tham gia Hiệp định CPTPP phải tôn trọng và bảo đảm quyền của người lao động trong việc thành lập và gia nhập tổ chức của người lao động tại cơ sở doanh nghiệp.
  • Hiệp định CPTPP cũng như quy định của ILO đều khẳng định tất cả các tổ chức của người lao động phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật của nước sở tại và theo các tiêu chuẩn của ILO.
  • Hiệp định CPTPP cũng có các quy định bảo vệ tổ chức của người lao động để không bị người sử dụng lao động can thiệp và phân biệt đối xử nhằm vô hiệu hóa hoặc làm suy yếu khả năng đại diện, bảo vệ cho quyền và lợi ích của người lao động. Điều này cũng phù hợp với quy định của ILO.

Cam kết về liên kết của các tổ chức của người lao động

Theo cam kết trong Hiệp định CPTPP, riêng Việt Nam có được thời gian chuẩn bị là 05 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực (tức là khoảng 07 năm kể từ khi ký Hiệp định) để đến khi đó sẽ cho phép các tổ chức của người lao động ở cấp cơ sở doanh nghiệp có thể gia nhập hoặc cùng nhau thành lập tổ chức của người lao động ở cấp cao hơn như cấp ngành, cấp vùng theo đúng trình tự đăng ký được pháp luật quy định một cách công khai, minh bạch. Tôn chỉ, mục đích, trình tự, thủ tục thành lập và phương thức hoạt động của các tổ chức của người lao động ở mức độ này cũng phải tuân thủ đầy đủ theo các quy định của pháp luật Việt Nam và phù hợp với các quy định của ILO. Thời gian chuẩn bị này là để Việt Nam hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức bộ máy quản lý để bảo đảm tốt nhất quyền lợi cho người lao động.

Quyền tự do liên kết được đề cập đến trong 2 Công ước này chỉ bao gồm quyền của người lao động cũng như của người sử dụng lao động được thành lập, gia nhập tổ chức đại diện cho mình nhằm mục đích tương tác trong quan hệ lao động. 2 Công ước này không điều chỉnh các hiệp hội cũng như các hoạt động không thuộc về quan hệ lao động.

  • Mua sắm chính phủ

Mua sắm Chính phủ (MSCP) được hiểu là khoản chi do một cơ quan nhà nước hoặc cơ quan do nhà nước ủy quyền thực hiện để nhằm mục đích của chính phủ, do vậy, MSCP là một thị trường mà người mua gắn liền với Nhà nước như cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước.

Cũng như Luật Đấu thầu, Chương MSCP của Hiệp định CPTPP đưa ra các quy tắc, quy trình trong quá trình lựa chọn nhà thầu, tuy nhiên, ở mức độ yêu cầu cao hơn về tính công bằng, công khai, minh bạch. Các nội dung chính của chương MSCP bao gồm: Không phân biệt đối xử; Không sử dụng các biện pháp ưu đãi hàng hóa hoặc nhà thầu trong nước; và Biểu cam kết mở cửa thị trường MSCP quyết định phạm vi mở cửa của từng nước.

Theo đó, Việt Nam cam kết thực hiện mở cửa và thực hiện theo các đối tượng như sau:

(i) Chủ đầu tư, hay chính là bên mời thầu, bao gồm các đơn vị được liệt kê trong bản chào là 21 cơ quan cấp Trung ương, không cam kết với các cơ quan thuộc Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Tòa án tối cao, Viện Kiểm sát tối cao. Đối với các Bộ Giao thông vận tải và Bộ Quốc phòng, Việt Nam chỉ cam kết mở cửa các gói mua sắm một số loại hàng hóa, dịch vụ nhất định.Việt Nam cũng cam kết mở cửa đấu thầu của 38 đơn vị sự nghiệp, bao gồm các bệnh viện thuộc Bộ Y tế, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học tự nhiên, Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Thông tấn xã Việt Nam.

(ii) Ngưỡng mở cửa của gói thầu được quy định riêng cho từng loại chủ đầu tư, bao gồm ngưỡng cho gói thầu mua sắm hàng hóa và dịch vụ nói chung, và ngưỡng cho mua sắm dịch vụ xây dựng. Ví dụ đối với các cơ quan trung ương, sau 15 năm chuyển đổi thì ngưỡng mở cửa là 8.5 triệu SDR đối với gói xây lắp, sau 25 năm thì ngưỡng đối với gói hàng hóa, dịch vụ là 130.000 SDR[3].

Riêng đối với 34 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế, ngưỡng mở cửa gói thầu hàng hoá được áp dụng đối với gói thầu mua thuốc cho từng bệnh viện mà có thời gian thực hiện hợp đồng từ một năm trở lên, hoặc gói thầu mua thuốc tập trung do Bộ Y tế thay mặt các bệnh viện tổ chức lựa chọn nhà thầu. Trường hợp gói thầu mua thuốc của bệnh viện có thời gian thực hiện hợp đồng dưới một năm, ngưỡng mở cửa đối với gói thầu này là 500.000 SDR. Trường hợp gói thầu chỉ bao gồm một loại thuốc duy nhất, ngưỡng mở cửa là 180.000 SDR.

(iii) Đối với hàng hóa, dịch vụ, lĩnh vực xây dựng cần mua thuộc phạm vi mở cửa, Việt Nam chỉ bảo lưu những nội dung cần thiết, ví dụ bảo lưu việc mua xăng dầu, một phần thị trường thuốc, lúa gạo, sách báo v.v… Phần dịch vụ chỉ liệt kê các loại dịch vụ mở cửa cho nhà thầu của các nước CPTPP tham gia đấu thầu. Việt Nam cũng cam kết mở cửa đấu thầu các gói thầu dược phẩm, tuy nhiên, lộ trình mở cửa khá dài, 15 năm sau khi hiệp định có hiệu lực, Việt Nam mới mở cửa đến 50% tổng giá trị hợp đồng đối với các gói thầu thuộc diện diều chỉnh. Các loại thuốc mà Việt Nam phải ưu tiên cho phép đấu thầu theo thứ tự: Thuốc generic thuộc Nhóm 1, thuốc generic thuộc Nhóm 2, thuốc generic thuộc Nhóm 3, thuốc generic thuộc Nhóm 4, thuốc generic thuộc Nhóm 5, cho tới khi mua đủ thuốc theo tỷ lệ phần trăm mở cửa cho năm đó.

(iv) Các thành viên cũng có thể áp dụng các loại trừ, ngoại lệ và các biện pháp trong thời kỳ chuyển đổi. Ví dụ như Việt Nam được loại trừ các gói thầu xây dựng nghĩa trang liệt sỹ, loại trừ mua xăng dầu ở Phần Hàng hóa, dịch vụ, loại trừ việc mua sắm ở trong nước để tiêu dùng ngoài lãnh thổ, loại trừ các gói thầu mua sắm dự trữ quốc gia, mua sắm nhằm phục vụ mục đích tăng cường sức khỏe, phúc lợi, sự phát triển kinh tế, xã hội của dân tộc thiểu số, gói thầu dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, các gói thầu vì lý do an ninh, quốc phòng.

Hiệp định CPTPP cho phép các nước đang phát triển được phép áp dụng một số biện pháp trong thời kỳ chuyển đổi. Ví dụ như trong vòng 05 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam sẽ không chịu sự điều chỉnh của cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan tới các nghĩa vụ của mình theo Chương MSCP. Trong thời gian này, Việt Nam chỉ tham vấn với nước CPTPP có ý kiến quan ngại về việc thực thi nghĩa vụ của Việt Nam.

(v) Việt Nam được phép yêu cầu, xem xét, áp dụng hoặc thực hiện bất kỳ hình thức ưu đãi trong nước trong bất kỳ giai đoạn nào của quy trình lựa chọn nhà thầu trong 10 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, kể cả cơ chế ưu đãi về giá, ở mức tối đa 40% tổng giá hợp đồng các gói thầu thuộc phạm vi điều chỉnh của từng năm; tỷ lệ này giảm xuống mức tối đa 30% kể từ năm thứ 11 cho đến hết năm thứ 25. Biện pháp ưu đãi nội địa sẽ được loại bỏ từ năm thứ 26 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực đối với Việt Nam.

  • Môi trường

Chương Môi trường thúc đẩy sự tương hỗ lẫn nhau giữa các chính sách về thương mại và môi trường; tăng cường bảo vệ môi trường ở mức độ cao và thực thi hiệu quả luật pháp về môi trường; tăng cường năng lực của các Bên để giải quyết các vấn đề về môi trường liên quan đến thương mại, bao gồm cả việc thông qua hợp tác.

Chương Môi trường bao gồm khoảng 25 trang với 23 Điều khoản và 02 Phụ lục, điều chỉnh hoạt động nhiều lĩnh vực và vấn đề môi trường có liên quan đến thương mại. Các quy định này đã được đưa vào thành những nghĩa vụ cam kết mang tính chất ràng buộc và bắt buộc các nước thành viên phải thực thi thông qua việc sử dụng công cụ về kinh tế, cụ thể là việc áp dụng cơ chế tham vấn và cơ chế giải quyết tranh chấp (có áp dụng chế tài thương mại) đối với những vấn đề phát sinh hoặc các tranh chấp về môi trường có liên quan đến thương mại và đầu tư giữa hai hay nhiều Bên.

Bên cạnh đó, chương Môi trường cũng có những điều khoản nhằm tăng tính minh bạch và tính nghiêm túc trong việc thực thi các nghĩa vụ của chương, cụ thể là nghĩa vụ phải tạo điều kiện cho công chúng được tham gia trong quá trình thực hiện; nghĩa vụ về chia sẻ và công khai thông tin liên quan đến việc thực hiện và nghĩa vụ khuyến khích, cho phép công chúng được tham gia giám sát quá trình thực thi các cam kết về môi trường. Các nội dung chính của chương này bao gồm:

Chính sách và pháp luật trong nước về môi trường

Xây dựng chính sách, pháp luật: Mỗi nước CPTPP phải cố gắng đảm bảo đầy đủ luật pháp và chính sách môi trường, khuyến khích việc bảo vệ môi trường ở mức cao và tiếp tục nâng cao các mức độ bảo vệ môi trường.

Thực thi chính sách và pháp luật: Mỗi nước CPTPP phải thực thi hiệu quả và nghiêm túc pháp luật về môi trường của mình mà không gây ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư giữa các nước CPTPP. Đồng thời không được phép bỏ qua, hay bằng cách nào đó giảm nhẹ hiệu lực pháp lý của các đạo luật và quy định mội trường của mình nhằm khuyến khích thương mại hay đầu tư giữa các nước CPTPP.

Các cam kết quốc tế về môi trường:

Các nước CPTPP khẳng định thực thi hiệu quả các cam kết trong các hiệp định đa phương về môi trường đã tham gia. Ngoài ra, chương Môi trường nhấn mạnh nghĩa vụ thực thi 03 điều ước quốc tế về môi trường là: Nghị định thư MONTREAL về các chất làm suy giảm tầng ô-zôn, Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu biển (Công ước MARPOL) và Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã đang bị đe dọa (Công ước CITES).

Tăng cường tính minh bạch và hiệu quả thực hiện:

Các nước CPTPP đồng ý công khai hóa thông tin, tăng cường sự tham gia và giám sát của công chúng trong quá trình thực thi. Ngoài ra, chương Môi trường cũng khuyến khích sự tham gia của khối tư nhân (doanh nghiệp) trong việc bảo vệ môi trường ví dụ như khuyến khích việc áp dụng các cơ chế tự nguyện nhằm nâng cao việc bảo vệ môi trường.

Trợ cấp thủy sản:

Liên quan đến nội dung về trợ cấp đánh bắt tự nhiên, chống thương mại trái phép hải sản đánh bắt từ tự nhiên là một trong những nội dung quan trọng của Chương Môi trường, các nước CPTPP đã cam kết:

Xóa bỏ trợ cấp cho hoạt động đánh bắt mà hoạt động đó được xác định là gây ra tác động xấu tới nguồn lợi hải sản đã trong tình trạng bị đánh bắt quá mức; Và xóa bỏ mọi hình thức trợ cấp cho các tàu đánh bắt bất hợp pháp, không theo quy định và không báo cáo.

Cam kết minh bạch hóa mọi chính sách và dữ liệu có liên quan đến các chương trình trợ cấp đánh bắt.

Cam kết thực hiện các biện pháp quốc gia cảng biển và quốc gia tàu treo cờ cũng như các kế hoạch hành động chống đánh bắt bất hợp pháp của các tổ chức nghề cá khu vực và quốc tế nhằm ứng phó và giải quyết vấn nạn đánh bắt bất hợp pháp và hành vi thương mại các sản phẩm đó.

Để thực thi các cam kết liên quan đến xóa bỏ trợ cấp như nêu ở trên, các nước có thời gian 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực với từng Bên để hài hòa hóa mọi chính sách liên quan. Riêng Việt Nam sẽ được gia hạn thêm 2 năm nếu có cơ sở thể hiện sự cần thiết phải có thêm thời gian chuyển tiếp.

Bảo tồn:

Trong Hiệp định TPP, các nước phải thực thi các biện pháp để chống lại và ngăn chặn hành vi khai thác và buôn bán động thực vật hoang dã trái với pháp luật của nước đó hay một luật áp dụng khác.

Luật áp dụng khác được hiểu là luật pháp của một nước mà việc khai thác và buôn bán động thực vật hoang dã xảy ra và chỉ liên quan đến vấn đề liệu những động, thực vật hoang dã đã được khai thác và buôn bán có trái với luật pháp nơi đó.

Các nước CPTPP đã thống nhất tạm hoãn nghĩa vụ phải thực thi các biện pháp để chống lại và ngăn chặn hành vi khai thác và buôn bán động thực vật hoang dã trái với một luật áp dụng khác. Điều này có nghĩa là các nước chỉ phải thực thi các biện pháp xử lý đối với các hành vi khai thác và buôn bán động thực vật hoang dã trái với pháp luật của nước mình theo quy định của Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã đang bị đe dọa (CITES).

  • Doanh nghiệp nhà nước

Các nghĩa vụ chính

Các nghĩa vụ chính theo Hiệp định bao gồm: (1) Các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) phải hoạt động theo cơ chế thị trường; (2) Các DNNN không được có hành vi phản cạnh tranh khi có vị trí độc quyền, gây ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư; (3) Minh bạch hóa một số thông tin như tỷ lệ sở hữu của Nhà nước, báo cáo tài chính đã được kiểm toán và được phép công bố; và (4) Nhà nước không trợ cấp quá mức, gây ảnh hưởng lớn đến lợi ích của nước khác.

Cam kết của Việt Nam

Các nghĩa vụ của Hiệp định chỉ áp dụng với các DNNN vượt ngưỡng doanh thu nhất định. Theo đó, các DNNN có doanh thu hàng năm dưới 16.000 tỷ VNĐ (vào thời điểm khi Hiệp định bắt đầu có hiệu lực) và dưới 6.500 tỷ VNĐ (khi Hiệp định có hiệu lực được 5 năm) sẽ không phải thực thi phần lớn các nghĩa vụ của Hiệp định.

Việt Nam bảo lưu loại trừ khỏi việc thực thi các quy định về DNNN của Hiệp định đối với tất cả các doanh nghiệp công ích, các hoạt động thực hiện các chương trình có ý nghĩa quan trọng chiến lược và các doanh nghiệp có hoạt động liên quan tới quốc phòng – an ninh Riêng một vài doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an tham gia kinh doanh thông thường trên thị trường và có cạnh tranh với doanh nghiệp thông thường của các nước CPTPP thì vẫn phải tuân thủ cam kết.

  • Sở hữu trí tuệ

Các cam kết chung

Các nước CPTPP tiếp tục khẳng định các mục tiêu của Hiệp định TRIPS của WTO, khẳng định sự cần thiết phải bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ để góp phần thúc đẩy đổi mới và chuyển giao và phổ biến công nghệ nhằm nâng cao lợi ích xã hội và kinh tế. Các nước được tự do quyết định phương pháp thích hợp trong việc thực hiện các quy định của Chương phù hợp với hệ thống pháp luật của mình trong thực tế.

Nhãn hiệu

  • Đối tượng được bảo hộ: Ngoài các đối tượng được bảo hộ theo Hiệp định TRIPS của WTO, Hiệp định CPTPP còn quy định thêm việc bảo hộ với nhãn hiệu thương mại dưới hình thức âm thanh. Ngoài ra, các nước phải nỗ lực để cho phép đăng ký nhãn hiệu mùi hương.
  • Thời gian bảo hộ: Các nước phải bảo hộ nhãn hiệu thương mại tối thiểu là 10 năm và có thể được gia hạn nhiều lần.
  • Cải cách thủ tục hành chính: Các nước CPTPP đảm bảo thủ tục hành chính đơn giản, minh bạch trong đăng ký, gia hạn nhãn hiệu thương mại và sử dụng hệ thống đăng ký nhãn hiệu thương mại điện tử để tăng tính minh bạch của quy trình này.

Chỉ dẫn địa lý

Các nước CPTPP được quyền lựa chọn cơ chế bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý, hoặc là theo cơ chế riêng chỉ áp dụng cho chỉ dẫn địa lý, hoặc là theo cơ chế chung với nhãn hiệu thương mại. Tuy nhiên, các nước phải tuân thủ một số nghĩa vụ về tính minh bạch, căn cứ công nhận và thời điểm bắt đầu bảo hộ.

Sáng chế (Patents)

Hiệp định CPTPP đã tạm hoãn thực thi quy định trong Hiệp định TPP về việc vấn đề bảo hộ cho sáng chế đã công bố công khai, nếu việc công bố đó là do người nộp đơn sáng chế hoặc người có được thông tin trực tiếp hoặc gián tiếp từ người nộp đơn sáng chế, và nếu việc công bố đó thực hiện trong vòng 12 tháng ngay trước thời điểm nộp đơn đăng ký, và tạm hoãn một số các nghĩa vụ khác.

Bảo hộ SHTT đối với nông hóa phẩm

Chương SHTT yêu cầu các nước CPTPP phải bảo hộ đối kết quả thử nghiệm và dữ liệu bí mật liên quan đến sự an toàn và hiệu quả của các sản phẩm được coi là nông hóa phẩm.

Quy định liên quan đến dược phẩm

Các quy định về SHTT đối với dược phẩm tại CPTPP cân đối giữa (i) yêu cầu nâng mức bảo hộ và quyền của chủ sở hữu sáng chế dược phẩm của một số nước CPTPP mạnh về chế tạo, sản xuất, xuất khẩu dược phẩm và (ii) mong muốn bảo vệ tốt hơn sức khỏe cộng đồng qua việc duy trì khả năng tiếp cận của công chúng với dược phẩm với giá hợp lý của các nước còn lại.

Kiểu dáng công nghiệp

Các nước CPTPP phải bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đối với cả các kiểu dáng chứa đựng trong một phần của một sản phẩm hoặc có một phần kiểu dáng riêng biệt so với toàn bộ sản phẩm và vẫn đảm bảo tuân thủ quy định của hiệp định TRIPS.

Quyền tác giả và các quyền liên quan

  • Quyền của các chủ sở hữu: Các nước CPTPP phải bảo hộ quyền độc quyền của tác giả, người biểu diễn, người sản xuất trong việc cho phép hoặc cấm sao chép, truyền đạt tới công chúng, phân phối và phát sóng các tác phẩm, cuộc biểu diễn và bản ghi âm của họ trong bất kỳ cách thức hoặc hình thức nào, kể cả dưới dạng điện tử.
  • Thời hạn bảo hộ: Đối với trường hợp chủ sở hữu quyền là cá nhân, thời hạn bảo hộ là cả cuộc đời cá nhân đó cộng thêm 70 năm kể từ ngày mất. Đối với trường hợp không phải cá nhân, thời hạn bảo hộ là 70 năm kể từ thời điểm công bố lần đầu tác phẩm. Nếu tác phẩm không được không bố trong vòng 25 năm kể từ ngày được tạo ra thì thời hạn này là 70 năm kể từ ngày tác phẩm được tạo ra. Việt Nam cam kết thực hiện nghĩa vụ này sau 5 năm kể từ khi TPP có hiệu lực. Tuy nhiên các nghĩa vụ này đã được tạm hoãn trong Hiệp định CPTPP.
  • Biện pháp bảo vệ công nghệ: Biện pháp bảo vệ công nghệ trong chương SHTT được hiểu là bất kỳ công nghệ, thiết bị hoặc linh kiện hiệu quả nào, được sử dụng, vận hành để kiểm soát truy cập vào một tác phẩm, cuộc biểu diễn, hoặc bản ghi âm đã được bảo hộ, hoặc quyền liên quan đến chúng. Các nước được yêu cầu phải có các quy định, các thủ tục tố tụng hình sự và hình phạt để xử lý các trường hợp cố ý vi phạm.

Thực thi và bảo hộ quyền SHTT

  • Nguyên tắc và ngoại lệ chung: Các nước CPTPP có quyền tự chủ trong việc xác định cách thức thực hiện các biện pháp thực thi và bảo vệ quyền SHTT nhưng phải thiết lập hệ thống pháp luật về các biện pháp xử lý các hành vi vi phạm SHTT hay phải đảm bảo triển khai các biện pháp thực thi một cách công bằng, thủ tục đơn giản, nhanh chóng, ít tốn kém, không tạo ra rào cản đối với thương mại và có cách thức để hạn chế lạm dụng.
  • Thủ tục xử lý vi phạm SHTT: Các nước CPTPP có nghĩa vụ bảo đảm các phán quyết tư pháp và quyết định hành chính liên quan đến việc thực thi các quyền sở hữu trí tuệ phải được ban hành thành văn bản.
  • Yêu cầu đặc biệt liên quan đến các biện pháp kiểm soát biên giới: Các nước CPTPP phải có các biện pháp thực thi bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu thương mại, quyền tác giả và các quyền liên quan tại biên giới.
  • Các biện pháp xử lý hình sự: Các yêu cầu bắt buộc về xử lý hình sự đối với vi phạm SHTT tập trung vào các vi phạm đối với nhãn hiệu thương mại, quyền tác giả và quyền liên quan.
  • Thương mại điện tử

Các quy định chính liên quan đến thương mại điện tử bao gồm:

Không thu thuế nhập khẩu đối với giao dịch thương mại điện tử

Các nước CPTPP không được đánh thuế nhập khẩu đối với việc giao dịch các sản phẩm số trên mạng. Đối tượng để áp dụng cơ chế không đánh thuế nhập khẩu là sản phẩm số được định nghĩa ở trên. Tuy nhiên, các nước CPTPP có quyền áp dụng các loại thuế, phí, lệ phí nội địa đối với các “nội dung được truyền bằng phương thức điện tử”, miễn là các loại thuế, lệ phí hoặc khoản thu đó phù hợp với các quy định của Hiệp định.

Không phân biệt đối xử sản phẩm số (trừ các khoản trợ cấp nhằm triển khai các chương trình của chính phủ và các chương trình phát thanh, truyền hình)

Nghĩa vụ không phân biệt đối xử sản phẩm số thiết lập cơ chế tạo thuận lợi thương mại, không có sự phân biệt đối xử đối với sản phẩm số được sáng tạo, sản xuất, phát hành, ký hợp đồng, đặt hàng hoặc xuất hiện lần đầu trên cơ sở hợp đồng thương mại trên lãnh thổ của nước CPTPP khác, hay không được có sự phân biệt đối xử với các sản phẩm số của các tác giả, người sản xuất, người trình diễn, người sở hữu của của nước CPTPP khác. Tuy nhiên, nghĩa vụ này không áp dụng đối với các khoản trợ cấp hay tài trợ bởi Chính phủ của một nước CPTPP, bao gồm những khoản vay, bảo lãnh, đảm bảo từ chính phủ đối với sản phẩm số để phục vụ các mục tiêu công cộng như bảo tồn văn hóa, bản sắc dân tộc, không áp dụng đối với phát thanh truyền hình.

Tự do lưu chuyển thông tin qua biên giới bằng phương thức điện tử

Nghĩa vụ của chương TMĐT loại trừ áp dụng đối với các thông tin, dữ liệu do Chính phủ hoặc Nhà nước nắm giữ hoặc xử lý, hoặc ủy quyền cho một cơ quan hay tổ chức nào được nắm giữ hoặc thu thập. Việc lưu chuyển thông tin, dữ liệu xuyên biên giới bằng phương thức điện tử chỉ để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của một pháp nhân. Các nước có quyền có những yêu cầu quản lý riêng về việc lưu chuyển thông tin bằng phương thức điện tử và có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để thực hiện các chính sách công cộng chính đáng, nhưng với điều kiện những chính sách này không tạo rào cản thương mại trá hình hay vận dụng theo hướng phân biệt đối xử hay tùy tiện.

Không yêu cầu sử dụng hoặc đặt trang thiết bị tại nước sở tại

Các nước CPTPP không được yêu cầu sử dụng hoặc đặt máy chủ tại nước sở tại như một điều kiện kinh doanh. Tuy nhiên, các nước CPTPP có quyền đưa ra yêu cầu quản lý riêng về việc sử dụng hoặc đặt máy chủ, bao gồm cả các yêu cầu để đảm bảo an ninh, bảo mật thông tin liên lạc; có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để thực hiện các chính sách công cộng chính đáng, nhưng với điều kiện những chính sách này không tạo rào cản thương mại trá hình hay vận dụng theo hướng phân biệt đối xử hay tùy tiện.

Lưu ý: Các nước CPTPP đồng ý không khiếu kiện Việt Nam nếu các quy định liên quan đến an ninh mạng của Việt Nam được cho là không phù hợp với Hiệp định CPTPP (cụ thể là 2 nghĩa vụ về tự do lưu chuyển thông tin xuyên biên giới và đặt hệ thống máy chủ tại nước sở tại trong Chương về Thương mại điện tử) trong vòng 5 năm kể từ khi Hiệp định CPCPTPP có hiệu lực.

Hợp tác an ninh mạng

Xuất phát từ tình trạng xuất hiện các hoạt động có tính chất nguy hiểm trên các mạng điện tử có thể gây tổn hại cho giao dịch điện tử, các nước ghi nhận tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực của các cơ quan quốc gia về việc ứng cứu đối với sự cố máy tính và tầm quan trọng của các cơ chế hợp tác để phối hợp xác định, giảm thiểu các hành vi xâm nhập nguy hiểm hoặc phổ biến mã độc gây ảnh hưởng đến mạng thông tin điện tử của các nước CPTPP.

Bảo lưu các biện pháp liên quan đến an ninh, quốc phòng, trật tự công cộng, quyền riêng tư

Các nước có quyền có những yêu cầu quản lý riêng về lưu chuyển thông tin hoặc dữ liệu xuyên biên giới bằng phương thức điện tử, sử dụng hoặc đặt máy chủ (bao gồm cả các yêu cầu để đảm bảo an ninh, bảo mật thông tin liên lạc); có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để thực hiện các chính sách công cộng chính đáng, nhưng với điều kiện những chính sách này không tạo rào cản thương mại trá hình hay vận dụng theo hướng phân biệt đối xử hay tùy tiện.

  • Hợp tác và nâng cao năng lực

Thúc đẩy hợp tác và xây dựng năng lực

Các nước CPTPP công nhận tầm quan trọng của các hoạt động hợp tác và nâng cao năng lực và thực hiện cũng như tăng cường các hoạt động này, giữa hai hoặc nhiều nước trên cơ sở cùng nhất trí, để hỗ trợ việc thực hiện Hiệp định này và nâng cao các lợi ích có được từ Hiệp định nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và sự phát triển.

Quy trình hợp tác và xây dựng năng lực

Các nước CPTPP sẽ thành lập một Uỷ ban hợp tác và nâng cao năng lực để xác định và rà soát các lĩnh vực nỗ lực hợp tác hoặc nâng cao năng lực tiềm năng trên cơ sở tự nguyện và sự sẵn sàng của các nguồn lực.

  • Phát triển

CPTPP là Hiệp định bao gồm các nước có trình độ phát triển rất khác nhau. Vì vậy, Chương Phát triển được xây dựng nhằm giúp các nước thành viên đang phát triển của CPTPP có thể tận dụng được tối đa cơ hội mà Hiệp định mang lại đối với các trọng tâm về phát triển. Nội dung chính của chương này bao gồm:

  • Vai trò của phát triển: Các nước CPTPP công nhận tầm quan trọng của vấn đề phát triển trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn diện, thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực mà Hiệp định CPTPP đã đặt ra.
  • Các ưu tiên trong phát triển: Các nước CPTPP đưa ra 3 lĩnh vực  được xem xét hợp tác ngay khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực, bao gồm: (i) Tăng trưởng kinh tế ở diện rộng, (ii) Tham gia của phụ nữ vào tăng trưởng kinh tế, (iii) Giáo dục, Khoa học và Công nghệ, Nghiên cứu và Đổi mới
  • Uỷ ban Phát triển nhằm thúc đẩy các hoạt động phát triển chung: Các nước CPTPP thành lập một Uỷ ban Phát triển nhằm thúc đẩy các hoạt động hợp tác tự nguyện để hỗ trợ cho các nền kinh tế đang phát triển trong CPTPP tận dụng cơ hội mà Hiệp định CPTPP mang lại.
  • Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Chương Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đặt ra những quy định nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp này được tham gia và tận dụng được các cơ hội do Hiệp định CPTPP mang lại. Nội dung chính của chương này bao gồm:

Nghĩa vụ chia sẻ thông tin

Chương DNVVN yêu cầu các nước CPTPP phải thành lập hoặc duy trì một cổng thông tin điện tử công khai hoặc một trang tin điện tử cung cấp các thông tin về Hiệp định CPTPP, bao gồm cả các thông tin được thiết kế dành riêng cho các DNVVN. Các nước cũng sẽ liệt kê trong trang tin điện tử của mình cổng thông tin điện tử tương tự của các nước CPTPP khác.

Thành lập Ủy ban DNVVN

Các nước CPTPP đồng ý thành lập Ủy ban DNVVN nhằm bảo đảm sự tham gia của các DNVVN trong quá trình thực thi Hiệp định CPTPP cũng như hỗ trợ các DNVVN tận dụng được các lợi ích của Hiệp định.

  • Hội tụ phương pháp hoạch định chiến sách

Thông qua chương Hội tụ về phương pháp hoạch định chính sách (HTCS), các nước CPTPP cam kết duy trì một môi trường pháp lý thông thoáng, công bằng và dễ dự đoán cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Chương này không ảnh hưởng đến quyền của các nước CPTPP trong việc điều chỉnh chính sách vì mục đích sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường và người lao động, bảo đảm quốc phòng – an ninh, ổn định tài chính và các mục đích vì lợi ích công cộng khác.

Nội dung cơ bản của chương này bao gồm:

  • Tầm quan trọng của HTCS,
  • Áp dụng các thực hành tốt về chính sách và
  • Thúc đẩy khuôn khổ hợp tác CPTPP.
  • Các ngoại lệ

Chương  Ngoại  lệ  đặt  ra  những  tình  huống,  hoàn  cảnh,  điều  kiện  cho  phép  một Bên  được  ban  hành,  áp  dụng  các  biện  pháp  trái  với  các  mục  tiêu,  nghĩa  vụ  đặt  ra trong Hiệp định CPTPP. Nội dung chính của chương này bao gồm:

  1. Ngoại lệ chung

Chương Ngoại lệ bao gồm các ngoại lệ chung đã được quy định trong:

–  Hiệp  định  chung  về  Thuế  quan  và  Thương  mại  (GATT  1994),  áp  dụng  cho  các điều khoản liên quan đến “thương mại hàng hoá”,

–  Hiệp  định  chung  về  Thương  mại  dịch  vụ  (GATS),  áp  dụng  cho  các  điều  khoản liên quan đến “Thương mại dịch vụ”.

  1. Ngoại lệ về an ninh

Chương Ngoại lệ cho phép các nước CPTPP được áp dụng  bất kỳ nào được cho  là cần thiết để bảo vệ lợi ích an ninh thiết yếu của nước đó.

  1. Ngoại lệ về thuế

Chương  Ngoại  lệ nêu  rõ  những điều khoản  cụ thể của Hiệp định CPTPP được áp dụng đối với các biện pháp thuế.

  1. Các biện pháp tự vệ tạm thời

Chương Ngoại lệ quy định về hoàn cảnh và điều kiện để một nước CPTPP có thể áp dụng các biện pháp tự vệ tạm thời  nhằm hạn chế việc chuyển tiền (vốn, lợi nhuận, cổ tức, các khoản lãi v.v.).

  1. Các biện pháp kiểm soát thuốc lá

Các nước CPTPP được quyết định các  biện  pháp  kiểm  soát  thuốc  lá  của  mình  mà không bị kiện theo cơ chế các nhà đầu tư kiện nhà nước (ISDS). 29.6. Công bố thông tin Chương Ngoại lệ  quy  định  các nước CPTPP  được  phép không cung cấp hay cho phép  tiếp cận  các thông tin  nếu  việc  đó trái với  pháp luật của  nước đó hoặc  ảnh hưởng  đến  lợi  ích  công  cộng,  lợi  ích thương  mại  hợp pháp  của  các  doanh  nghiệp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *